Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng dạy học Ngữ văn tại trường phổ thông cho thấy một bức tranh đáng lo ngại về năng lực cảm thụ của học sinh. Theo số liệu khảo sát thực tế tại 5 trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, có tới 84% học sinh xếp loại tư duy văn học ở mức trung bình và yếu kém. Trong đó, tỷ lệ học sinh yếu kém chiếm 37%, mức trung bình chiếm 47%, mức khá đạt 11% và chỉ có vỏn vẹn 5% học sinh đạt mức độ tư duy tốt.

Vấn đề cốt lõi nằm ở phương pháp giảng dạy truyền thống mang tính truyền thụ một chiều, nặng về thuyết trình và áp đặt cảm nhận chủ quan của giáo viên. Cách dạy này khiến học sinh rơi vào thế bị động, triệt tiêu trí tưởng tượng và biến giờ đọc hiểu tác phẩm thành quá trình ghi chép máy móc.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về việc rèn luyện tư duy văn học cho học sinh trung học phổ thông; đồng thời thiết kế quy trình xây dựng, sử dụng hệ thống câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao thuộc chương trình Ngữ văn 11 ban Cơ bản.

Nghiên cứu được triển khai trong mốc thời gian năm 2010 với phạm vi khảo sát tập trung tại các trường trung học phổ thông khu vực nông thôn và bán đô thị. Ý nghĩa của đề tài thể hiện qua việc cung cấp giải pháp sư phạm thực chứng, hướng tới mục tiêu chuyển hóa tỷ lệ 84% học sinh thụ động sang nhóm tích cực chủ động chiếm lĩnh văn bản, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ và phát triển tư duy hình tượng độc lập cho người học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa tâm lý học nhận thức, thi pháp học hiện đại và lý thuyết tiếp nhận văn học. Về thang bậc nhận thức, đề tài vận dụng khung phân loại tư duy của Lorin Anderson và các cộng sự công bố năm 1999 (phiên bản cập nhật từ thang đo Bloom) với 6 cấp độ: Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá và Sáng tạo. Về mặt tiếp nhận thẩm mỹ, nghiên cứu ứng dụng luận điểm của Karl Marx xem ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy, kết hợp với quan điểm của V.G. Belinsky và M. Gorki về bản chất tư duy hình tượng trong nghệ thuật ngôn từ.

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Tư duy văn học: Hình thái tư duy nghệ thuật đặc thù dựa trên sự hài hòa giữa suy nghĩ lý trí và cảm xúc thẩm mỹ trước đối tượng ngôn từ phi vật thể.
  • Liên tưởng: Cơ chế tâm lý thiết lập mối liên hệ giữa các biểu tượng hiện có với trải nghiệm trong quá khứ, gồm liên tưởng tương đồng, tương phản, tiếp cận và nhân quả.
  • Tưởng tượng: Quá trình nhận thức tạo ra hình ảnh mới từ những biểu tượng đã tích lũy, vận hành qua hai cấp độ là tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo.
  • Trường liên tưởng: Hệ thống đón đợi tiếp nhận bao gồm trường liên tưởng dân tộc, thời đại và cá nhân của người đọc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thông qua bộ công cụ khảo sát đa dạng áp dụng trên cỡ mẫu gồm 480 học sinh khối 11 và 28 giáo viên bộ môn Ngữ văn tại 5 trường trung học phổ thông thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các đối tượng học sinh có học lực phân hóa từ giỏi đến yếu kém.

Phương pháp phân tích kết hợp chặt chẽ giữa định lượng và định tính. Lý do lựa chọn cách tiếp cận này xuất phát từ yêu cầu phải đo lường chính xác các chỉ số phần trăm về mức độ tư duy văn học, đồng thời phân tích sâu bản chất các lỗi diễn đạt, sự lệch lạc trong cảm thụ hình tượng của học sinh qua các bài kiểm tra thực nghiệm.

Timeline nghiên cứu được triển khai theo 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 thu thập cơ sở lý luận và điều tra thực trạng; Giai đoạn 2 thiết kế giáo án thể nghiệm tác phẩm "Chí Phèo" với hệ thống câu hỏi liên tưởng chuyên sâu; Giai đoạn 3 tiến hành dạy thực nghiệm sư phạm, kiểm tra đánh giá và xử lý số liệu thống kê.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực trạng và phân tích sản phẩm học tập mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mức độ phát triển tư duy văn học của học sinh trung học phổ thông hiện nay mất cân đối nghiêm trọng. Tỷ lệ học sinh đạt mức tư duy tốt chỉ chiếm 5% và mức khá chiếm 11%, trong khi có tới 47% học sinh ở mức trung bình và 37% xếp loại yếu kém. Khoảng cách chênh lệch giữa nhóm học sinh có tư duy tốt và nhóm yếu kém lên tới 32%, phản ánh sự hạn chế lớn trong năng lực tiếp nhận tác phẩm.

Thứ hai, học sinh đối mặt với rào cản nghiêm trọng trong cơ chế tưởng tượng cảm tính. Có tới 68% câu trả lời của học sinh thuộc nhóm trung bình và yếu kém rơi vào tình trạng "diễn xuôi" văn bản một cách thô thiển hoặc suy diễn lệch lạc hoàn cảnh nghệ thuật. Khi được yêu cầu cảm nhận câu thơ "Tựa gối ôm cần lâu chẳng được", nhiều học sinh hiểu theo nghĩa đen cơ học là nhà thơ ngồi lâu bị mỏi lưng nên phải kê gối ở mạn thuyền.

Thứ ba, việc sử dụng câu hỏi của giáo viên trên lớp còn đơn điệu. Hơn 80% câu hỏi trong các bài giảng truyền thống chỉ dừng lại ở mức độ tái hiện sự kiện cốt truyện, dưới 15% số tiết dạy có sử dụng câu hỏi khơi gợi liên tưởng so sánh liên văn bản hoặc tưởng tượng đối thoại cùng nhân vật.

Thứ tư, nghiên cứu đã xây dựng thành công hệ thống câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng phân hóa thành 2 phân hệ lớn: phân hệ liên tưởng nội bộ tác phẩm (liên tưởng nhân vật với hoàn cảnh, liên tưởng chi tiết đối lập, tưởng tượng tâm trạng tác giả) và phân hệ liên tưởng ngoài tác phẩm (liên tưởng hiện thực nghệ thuật với đời sống xã hội, so sánh hình tượng liên văn bản).

Thảo luận kết quả

Thực trạng tư duy văn học nghèo nàn bắt nguồn từ nguyên nhân học sinh thiếu vốn sống, ít đọc sách và đặc biệt là giáo viên chưa tạo ra "hoàn cảnh có vấn đề" để kích hoạt tư duy. Khi giáo viên chỉ đóng vai trò truyền đạt ý kiến có sẵn, học sinh bị tước đi cơ hội rèn luyện các thao tác trí tuệ như so sánh, khái quát hóa và bình giá thẩm mỹ.

Dữ liệu khảo sát thực trạng có thể được trực quan hóa rõ nét qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 4 mức độ tư duy văn học (5% tốt, 11% khá, 47% trung bình, 37% yếu kém) và bảng so sánh đối chứng giữa lớp thể nghiệm và lớp đại trà. Kết quả thực nghiệm sư phạm khi áp dụng câu hỏi liên tưởng trong bài "Chí Phèo" cho thấy sự chuyển biến rõ rệt: tỷ lệ học sinh khá giỏi ở lớp thể nghiệm tăng lên khoảng 35%, cao hơn gấp 2 lần so với lớp đối chứng dạy theo phương pháp cũ.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với luận điểm của GS. Phan Trọng Luận về năng lực "đồng sáng tạo" của bạn đọc và nghiên cứu của TS. Nguyễn Trọng Hoàn về phát triển tư duy sáng tạo nghệ thuật. Khi học sinh được kích thích bằng hệ thống câu hỏi hình dung, tái hiện và tái tạo, các em không chỉ hiểu sâu giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của kiệt tác "Chí Phèo" mà còn phát triển tư duy phản biện và năng lực biểu đạt cảm xúc cá nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện tư duy văn học:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình thiết kế giáo án tích hợp hệ thống câu hỏi liên tưởng đa tầng. Giáo viên bộ môn Ngữ văn cần chủ động rà soát 100% giáo án tác phẩm văn xuôi tự sự, lồng ghép tối thiểu từ 3 đến 5 câu hỏi kích thích liên tưởng tương đồng, tương phản và tưởng tượng sáng tạo trong mỗi tiến trình dạy học đọc hiểu, hoàn thành triển khai ngay từ đầu học kỳ I.

Thứ tư, triển khai quy trình tổ chức dạy học 3 bước trên lớp gồm: Tri giác ngôn ngữ nghệ thuật, Huy động trường liên tưởng cá nhân, và Tổng hợp so sánh khái quát hình tượng. Mục tiêu cụ thể là giúp giảm tỷ lệ học sinh xếp loại tư duy văn học yếu kém từ 37% xuống dưới 15% sau 1 năm học áp dụng.

Thứ ba, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo mô hình nghiên cứu bài học. Tổ chuyên môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông cần tổ chức định kỳ 2 chuyên đề chuyên sâu mỗi học kỳ, tập trung vào kỹ thuật xây dựng câu hỏi kích hoạt trí tưởng tượng có phê phán cho học sinh lớp 11 đối với các tác phẩm hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945.

Thứ tư, xây dựng môi trường đối thoại dân chủ và mở rộng không gian văn hóa tiếp nhận. Ban giám hiệu và giáo viên cần khuyến khích học sinh bộc lộ suy nghĩ riêng, chấp nhận các góc nhìn thẩm mỹ đa chiều trong 100% các giờ đọc hiểu, đồng thời định hướng uốn nắn kịp thời khi liên tưởng của học sinh đi quá giới hạn văn bản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Giáo viên Ngữ văn cấp trung học phổ thông: Khai thác trọn bộ ngân hàng câu hỏi liên tưởng mẫu và quy trình lên lớp thể nghiệm bài "Chí Phèo", áp dụng trực tiếp để nâng cao chất lượng giờ dạy đọc hiểu tác phẩm văn xuôi tự sự.
  • Sinh viên sư phạm và học viên cao học chuyên ngành Phương pháp dạy học Ngữ văn: Tiếp cận nguồn dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm bài bản, hệ thống tài liệu tham khảo phong phú và khung lý luận vững chắc để phục vụ việc thực hiện các khóa luận, luận văn chuyên ngành.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên phụ trách môn Ngữ văn: Sử dụng khung đánh giá 4 mức độ tư duy văn học làm tiêu chí kiểm tra, giám sát chất lượng đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực tại các cơ sở giáo dục.
  • Nhóm chuyên gia biên soạn sách giáo khoa và tài liệu tham khảo: Tham khảo cách phân loại câu hỏi liên tưởng nội bộ và ngoài tác phẩm để hoàn thiện hệ thống bài tập sau mỗi bài học trong chương trình giáo dục phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

  1. Câu hỏi liên tưởng nội bộ tác phẩm văn chương là gì? Đó là dạng câu hỏi khai thác mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố bên trong văn bản, như mối liên hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh, chi tiết đối lập hay điểm nhìn trần thuật. Ví dụ, câu hỏi yêu cầu học sinh liên tưởng tiếng chửi của Chí Phèo với khát vọng giao tiếp nhằm làm sáng tỏ bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

  2. Vì sao học sinh thường mắc lỗi diễn xuôi khi đứng trước câu hỏi tưởng tượng? Nguyên nhân chủ yếu do học sinh thiếu vốn từ ngữ, thói quen tư duy cơ học và tri giác bề mặt. Điều này dẫn đến cách hiểu nghĩa đen vụng về, như việc hiểu sai hình ảnh người con gái xay ngô trong bài thơ "Chiều tối" của Hồ Chí Minh thành hoàn cảnh đói rét cơ cực cần đốt than sưởi ấm.

  3. Hệ thống câu hỏi tưởng tượng trong luận văn được phân thành những cấp độ nào? Nghiên cứu chia thành 2 cấp độ chính: câu hỏi hình dung, tưởng tượng tái hiện (dựng lại bức tranh nghệ thuật dựa trên mô tả văn bản) và câu hỏi hình dung, tưởng tượng sáng tạo (đối thoại với nhân vật, giả định kết thúc mới hoặc thay đổi điểm nhìn nghệ thuật của tác giả).

  4. Việc sử dụng câu hỏi liên tưởng có làm chệch hướng phân tích tác phẩm "Chí Phèo" không? Hoàn toàn không, vì quy trình dạy học luôn có sự định hướng thẩm mỹ chặt chẽ của giáo viên. Câu hỏi liên tưởng được thiết kế gắn liền với các điểm sáng thi pháp, giúp học sinh thấu hiểu sâu sắc hơn giá trị nhân đạo và tài năng tự sự độc đáo của nhà văn Nam Cao.

  5. Cần chuẩn bị những điều kiện gì để áp dụng hiệu quả phương pháp này trên lớp? Giáo viên cần nắm vững đặc trưng thể loại truyện ngắn, xác định chính xác mục tiêu bài học và thiết kế hệ thống câu hỏi liên hoàn theo mạch tư duy logic. Đồng thời, giáo viên phải tạo bầu không khí học tập thân thiện, kích hoạt cảm xúc thẩm mỹ trước khi đưa ra câu hỏi.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ bản chất của tư duy văn học như một phẩm chất trí tuệ đặc thù, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhận thức lý tính và rung động thẩm mỹ trước ngôn từ nghệ thuật.
  • Hệ thống hóa khung lý luận chuyên sâu về cơ chế liên tưởng, tưởng tượng và trường liên tưởng trong việc tiếp nhận tác phẩm văn chương ở trường phổ thông.
  • Phân tích toàn diện thực trạng dạy học tại 5 trường trung học phổ thông, chỉ rõ nguyên nhân khiến 84% học sinh dừng lại ở mức độ tư duy văn học trung bình và yếu kém.
  • Thiết kế hoàn chỉnh giáo án thể nghiệm tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao với hệ thống câu hỏi liên tưởng phong phú, khoa học và có tính khả thi cao.
  • Đóng góp bộ giải pháp sư phạm thực nghiệm có khả năng nhân rộng cho các tác phẩm văn xuôi và thơ ca trong toàn bộ chương trình Ngữ văn 11.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cẩm nang phương pháp luận và kỹ thuật đặt câu hỏi thực chứng, giúp giáo viên chuyển đổi thành công từ lối dạy thuyết trình truyền thống sang tổ chức hoạt động học tập sáng tạo. Kế hoạch tiếp theo là mở rộng phạm vi ứng dụng phương pháp này tại các trường trung học phổ thông khu vực Đồng bằng sông Hồng trong năm học tới. Hãy áp dụng ngay quy trình rèn luyện tư duy văn học bằng câu hỏi liên tưởng để nâng tầm chất lượng giảng dạy và khơi dậy tiềm năng sáng tạo của học sinh.