phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo. nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương Chƣơng 1 : Cơ sở lí luận của đề tài. Chƣơng 2 : Cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng. Chƣơng 3: Thiết kế và thể nghiệm dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Khái niệm tư duy Theo từ điển Tiếng Việt tư duy là "giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí" [49,tr. Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong những đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao. Về lí thuyết Karl Marx cho rằng " Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được cải tạo/ tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh". Tóm lại , tư duy là quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất bên trong của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.Về mặt bản chất, kết quả của quá trình tư duy là sự phản ánh thế giới khách quan, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Lênin đã từng chỉ ra rằng:"Thế giới là một sự vận động có quy luật của vật chất và nhận thức của chúng ta- sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên- thì chỉ có thể phản ánh tính quy luật đó mà thôi" [14, tr.Tư duy và ngôn ngữ Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy là một câu hỏi lâu đời.
Trong qúa khứ có hai quan điểm bao quát: một là nắm được vấn đề ngôn ngữ chỉ đơn thuần là phương tiện truyền bá hoặc chỉ là vỏ bọc bên ngoài của tư duy; hai là xác nhận dòng ngôn ngữ và tư duy là một, tư duy chỉ là lời nói không có âm thanh. Thực tế các nhà nghiên cứu đã khẳng định tư duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ. Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương tiện. Trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Sassure nói rằng khi chưa có ngôn ngữ thì con người không thể phân biệt được hai khái niệm khác nhau( nghĩa là chưa có tư duy).
Khi ấy tư duy cũng như âm thanh chỉ là một thể liên tục, không định hình. Trên quá trình phát triển lao động, ngôn ngữ xuất hiện giữa hai cái thực thể không định hình này và chia cắt cả hai thành những đơn vị phân lập như ta cắt hai mặt của một tờ giấy. Như thế ngôn ngữ và tư duy cùng xuất hiện một lúc. Mác cũng khẳng định" ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy" và " ý tưởng không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được".
Cả những khi người ta suy nghĩ thầm lặng bằng cái gọi là ngôn ngữ bên trong thì mối quan hệ ấy vẫn khăng khít với nhau. Vậy ngôn ngữ và tư duy là một thể thống nhất. Trong thực tế ngôn ngữ loài vật dù có hoàn thiện đến đâu cũng chỉ là một hệ thống tín hiệu thông báo có tính chất bản năng. Trái lại ngôn ngữ của loài người gắn bó khăng khít với tư duy và do cái nguyên lí sáng tạo ấy chi phối nên không bị lệ thuộc vào một điều kiện bên ngoài nào kiềm toả nổi.
Nó luôn luôn đổi mới để đáp ứng mọi yêu cầu diễn đạt và có thể nói như Herder " Con người là một tạo vật sinh ra với ngôn ngữ" Giữa ngôn ngữ và tư duy luôn có mối tương quan lẫn nhau. Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong những hoạt động đa dạng của tư duy. Về phần này, riêng ở mặt thông hoá, ngôn ngữ cũng có tính chất ưu việt hơn so với các hệ thống thông tin khác mà con người sử dụng. Nhờ có khả năng diễn đạt tiềm tàng vô tận ấy mà ngôn ngữ không chỉ giới hạn ở chỗ trao đổi tư tưởng, tình cảm giữa con người với nhau.
Trong những hoạt động của tư duy trừu tượng, nó vẫn giữ vai trò đặc biệt cần thiết. Vì trong thực tế hằng ngày, suy nghĩ là mình nói với mình. Trong những lĩnh vực hết sức trừu tượng như toán học, nhà nghiên cứu cũng phải dùng đến ngôn ngữ, Einstein cũng đã thừa nhận: " Không có nhà bác học nào suy nghĩ bằng công thức". Người ta suy nghĩ bằng từ, bằng cái gọi là " tiếng nói bên trong".
Nhờ ngôn ngữ nên những thao tác muôn màu vẻ của tư duy mới thực hiện và phát triển được. Trong thời đại 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngày nay tư duy lôgic của con người đã đạt đến một trình độ hoàn thiện phi thường trong cách phản ánh hiện thực và có thể đi trước thực tế một bước để có những dự kiến về tương lai. Nhưng sự phát triển này không phải là bột phát cũng không phải là độc lập, riêng rẽ. Cùng sinh ra với ngôn ngữ, tư duy cũng phát triển song song với nó.
Những hiện tượng nhân chủng học và ngôn ngữ học lịch sử đã chứng minh điều này. Nếu ngôn ngữ có tác dụng đến tư duy thì ngược lại tư duy cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của ngôn ngữ vì cả hai chỉ lập thành một đơn vị thống nhất. Không thể quan niệm có cái này mà không có cái kia như Mác đã chỉ ra:" Ngôn ngữ không có tư tưởng thì không thể tồn tại, còn tư tưởng thì phải được thể hiện trong cái chất tự nhiên của ngôn ngữ". Cho nên điều tiên quyết cho một lời nói hình thành là nó phải có nội dung.
Những âm không có nghĩa dù đẹp đẽ đến đâu cũng không thể tồn tại vì chúng không phục vụ cho một mục đích nào cả. Như vậy tư duy phản ánh sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp bằng ngôn ngữ. Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ. Các quy luật, quy tắc, các sự kiện, các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn đạt trong các từ.
Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện.Tư duy của con người không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được, ngược lại ngôn ngữ cũng không thể có được nếu không dựa vào tư duy. Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất và tách rời nhau được. Văn học được coi là " trò diễn bằng ngôn từ". Dạy Ngữ Văn, giáo viên cần thấy được mối liên hệ này để rèn luyện tư duy cho học sinh.Các kiểu tư duy Tuỳ thuộc vào tiêu chí khác nhau có nhiều cách phân loại tư duy khác nhau.
Người ta thường nhắc tới cách phân loại tư duy của Bloom theo mục tiêu giáo dục bao gồm các cấp bậc: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tồng hợp, đánh giá. Vào năm 1999, Tiến sĩ Lorin Anderson cùng những đồng nghiệp 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của mình đã xuất bản phiên bản mới được cập nhật về phân loại tư duy của Bloom. Tư duy bao gồm các cấp độ: Nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo. Tuy nhiên ở đây chúng tôi muốn đề cập tới cách phân loại kiểu tư duy khác.
Đó là kiểu tư duy logíc và tư duy hình tượng. Cách phân chia này xuất phát từ mục đích và phương tiện nhận thức. Tư duy lôgíc là kiểu tư duy đặc thù của khoa học. Đó là quá trình thâm nhập vào bản chất của đối tượng để tìm ra bản chất và quy luật nội tại của chúng.
Trong quá trình tư duy lôgíc, những cái ngẫu nhiên, cá biệt từng bước bị gạt bỏ để nắm bắt cái cốt lõi, cái phổ quát, cái chung của các lớp sự vật, hiện tượng. Sự trừu tượng hoá trong tư duy lôgíc là quá trình phản ánh thế giới bằng các khái niệm, phán đoán, công thức, mô hình. Dựa trên cơ sở suy lí, tiên đề, định lý, tư duy lôgíc tiến đến chân lý khách quan ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn.Tư duy lôgíc phản ánh đối tượng một cách khái quát trừu tượng nhưng không vì thế mà xa rời hiện thực. Điều đó đã được Lênin khẳng định :"Những sự trừu tượng về vật chất, về quy luật tự nhiên, sự trừu tượng về giá trị.
tóm lại, tất cả những sự trừu tượng khoa học (đúng đắn, nghiêm túc, không tuỳ tiện) phản ánh giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn.19] Tư duy hình tượng là kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật. Mục đích của tư duy nghệ thuật cũng là tìm đến bản chất của sự vật và hiện tượng để nắm bắt quy luật đời sống khách quan. Nhưng ở đây tư duy hình tượng phản ánh cái chung qua cái cụ thể mang tính đại diện, mang tính quy luật. Khi đó trong tư duy hình tượng, "cái cụ thể biểu hiện là quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm xuất phát của trực quan, của biểu tượng.
Từ những phát hiện về "cái phổ biến" trong "cái đặc thù" ,"cái cá thể", tư duy hình tượng giữ lại cảm giác và biểu tượng để xây dựng hình tượng - một phương tiện phản ánh hiện thực giàu tính thẩm mĩ. Sự phản ánh trong tư duy hình 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tượng không phải là sự sao chép hiện thực một cách bàng quan mà mang đậm dấu ấn chủ quan. Vì bản thân "cái phản ánh" là kết quả của quá trình cảm nhận và đồng hoá hiện thực một cách tích cực và sáng tạo. Trong quá trình dạy Ngữ Văn, người giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh cả hai kiểu tư duy này.Tuy nhiên do đặc trưng bộ môn mà giáo viên cần nghiêng về kiểu tư duy hình tượng.
Khái niệm tư duy văn học Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi tài liệu để phục vụ luận văn, chúng tôi chưa thấy bất kì tài liệu nào đưa ra khái niệm tư duy văn học. Ở đây chúng tôi không tham vọng có thể đưa ra một khái niệm chuẩn mực mà chỉ trình bày một cách hiểu về tư duy văn học. Vì Văn học là một môn nghệ thuật nên kiểu tư duy đặc thù của nó là tư duy hình tượng. Tuy nhiên không thể đồng nhất giữa tư duy hình tượng và tư duy văn học được.