CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY THỰC HÀNH TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Chúng ta đã biết, từ thời cổ đại, nhất là ở Trung hoa và ấn độ đã sớm xuất hiện tư tưởng về quản lí. Trong các học thuyết về quản lí ở phương Đông cổ đại Khổng Tử, Mạnh Tử và một số người khác chủ trương dùng “Đức trị” để cai trị dân Hoặc Hàn phi Tử và một số người khác lại chủ trương dùng “Pháp trị” để trị dân.
Ở phương Tây, nhà triết học Xôcrat cho rằng:“Những người nào biết cách sử dụng con người thì sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt. Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc”. Tư tưởng quản lí con người và những yêu cầu về người đứng đầu cai trị dân được thể hiện trong quan điểm của Platon (427 - 347 TCN). Theo Ông muốn trị nước thì phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân.
Người đứng đầu phải hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ ít tham vọng về vật chất, đặc biệt phải được đào tạo kỹ lưỡng. Từ cuối thế kỷ XIV, khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện vấn đề về dạy học và quản lí dạy học đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nổi bật nhất là Cômenxki (1592 - 1670) - ông tổ của nền giáo dục cận đại, theo ông nghề thầy giáo là nghề rất vinh dự “Dưới ánh mặt trời không có nghề nghiệp nào cao quí hơn ” [25, tr 70]. Ông đã đặt cơ sở lý luận cho một nền dân chủ giáo dục tiến bộ sau này và cho đến nay hệ thống lý luận đó vẫn còn giá trị tích cực, tiến bộ đối với sự nghiệp giáo duc đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội văn minh hiện đại. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vào cuối thế kỷ XVII có những nhà nghiên cứu về quản lí tiêu biểu như Rober Owen (1771- 1858), F.Tay Lo (1856 - 1915) người được coi là “Cha đẻ của Thuyết quản lí theo khoa học ”.
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lí: Tính khoa học và Nghệ thuật quản lí, những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục, khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi về lượng và về chất. Đối với dạy nghề hay giáo dục nghề nghiệp, trên thế giới ở mỗi quốc gia có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ công nghệ văn minh khác nhau mà hệ thống giáo dục dạy nghề cũng khác nhau. Nhưng hầu hết các nước đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề bên cạch hệ phổ thông và trung học.
Hoa Kỳ đào tạo công nhân được tiến hành trong các trường THPT phân ban, các trường dạy nghề trung học, các cơ sở đào tạo sau trung học. Tốt nghiệp đuợc cấp bằng và chứng chỉ công nhân lành nghề. Thời gian đào tạo từ 2-7 năm tuỳ theo từng nghề. Ở CHLB Đức có hệ thống đào tạo nghề và TCCN và bậc sau trung học.
Liên Xô (cũ) đào tạo rất đa dạng, bao gồm hệ thống trường dạy nghề cạnh xí nghiệp và đào tạo tại xí nghiệp. Với thời gian dào tạo khác nhau: Bậc 3 và 4 là 2 năm; bậc 4 và 5 là 2 năm rưỡi; Bậc 5 và 6 là 3 năm; công nhân lành nghề bậc cao là 3 đến 4 năm. Ở Việt Nam Hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam được hình thành trên 50 năm. Điều 32 Luật Giáo dục năm 2005 quy định giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ 3 đến 4 năm đối với người tốt nghiệp trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm đối với người tốt nghiệp phổ thông trung học và dạy nghề dưới 1 năm đối với sơ cấp và từ 1 đến 3 năm đối với trung cấp nghề và cao đẳng nghề.
Qua phân tích đặc trưng của một số nước về hệ thống giáo dục nghề nghiệp ta thấy hệ thống giáo dục nghề nghiệp được hình thành do yêu cầu của thị trường lao động và do nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu việc làm của người lao động trong xã hội. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp là cung cấp cho xã hội, cho thị trường lao động những kỹ thuật viên, trung cấp và công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao, năng lực hành nghề thể hiện ở các kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm làm việc được đào tạo trong các cơ sở đào tạo. Hình thức đào tạo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề nghiệp phong phú và đa dạng: đào tạo dài hạn và đào tạo ngắn hạn; đào tạo chính quy và đào tạo không chính quy; đào tạo tại các trường hay các trung tâm dạy nghề. Đặc trưng nổi bật của hệ thống nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kỹ năng, kỹ xảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lý thuyết.
Do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập kỹ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo. Sức mạnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và chất lượng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trường lao động. Đó cũng là cơ sở để thị trường lao động có thể thực hiện được các quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh. Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo nghề.
Trong đó, một số công trình tiêu biểu phải kể đến các công trình của các nhà nghiên cứu như: Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dương, … đã có những nghiên cứu trong giáo dục nghề nghiệp, tâm lý lao động. Ngoài ra, còn một số luận án, luận văn của các tác giả: - Đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật ở thủ đô Hà Nội”, luận văn tiến sĩ của tác giả Hoàng Ngọc Trí, 2005 đã đề cập đến mối quan hệ giữa trường nghề và các đơn vị sản xuất. - Đề tài : “Quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội”, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hằng, năm 2014 đã đề cập đến vấn đề đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội. - Đề tài “Tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Đào Thị Phương Nga năm 2007.
- Đề tài: “Một số biện pháp tăng cường quản lý đào tạo nghề ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội”. Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Tuấn năm 2006. Các công trình trên đã đánh giá thực trạng một số nội dung quản lý đào tạo nghề của các đơn vị, các địa phương, đồng thời đề ra một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vấn đề quản lý quá trình dạy học nghề ở Trường Trung cấp nghề Sơn Tây trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy, tác giả chọn vấn đề nghiên cứu này. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lí nhà trường Nhà trường với tư cách là một thể chế nhà nước - xã hội, trực tiếp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ và là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương.
Quản lí nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục. Trong quản lí nhà trường, quản lí hoạt động dạy học là nội dung quan trọng. Quản lí dạy học là tác động hợp qui luật của chủ thể quản lí dạy học đến chủ thể dạy học bằng các qui định pháp lý về GD-ĐT, Bộ máy tổ chức, nhân lưc, nguồn lực, tài lực dạy học và thông tin môi trường dạy học nhằm đạt được mục tiêu quản lí dạy học. Theo Đặng Thành Hưng (Giáo trình Giáo dục so sánh, 1998) coi quản lí nhà trường là quản lí giáo dục ở cấp cơ sở, phản ánh đầy đủ mục tiêu, chức năng, nội dung và phương tiện quản lí giáo dục trong phạm vi trường học.
Trong quản lí nhà trường có những đối tượng quản lí cụ thể tạo nên những lĩnh vực hay nội dung quản lí tương đối khác nhau, cụ thể như sau: - Quản lí hành chính và tài chính. - Quản lí hoạt động chuyên môn (hay quản lí chương trình giáo dục). - Quản lí nhân sự (giáo viên, nhân viên, người học). - Quản lí cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
- Quản lí các quan hệ giáo dục trong nhà trường, giữa nhà trường với gia đình, cộng đồng địa phương. Quản lí quá trình dạy học Trong quản lí nhà trường, quản lí dạy học là nội dung vô cùng quan trọng. Hoạt động dạy học là hoạt động mang tính đặc trưng của tất cả các loại hình nhà trường, hoạt động dạy và hoạt động học luôn giữ vị trí số 1 và là vị trí chủ yếu trong nhà trường vì giáo dục thực hiện cả chức năng giáo dục và phát triển. Theo đó mọi hoạt động khác của nhà trường đều phải hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy học.
Quản lí dạy học trong nhà trường là quản lí trực tiếp các hoạt động giáo dục diễn ra ở trường nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo và nguyên lý giáo dục theo tinh thần nghị 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết trung ương 2 khoá VIII của Đảng cộng sản Việt Nam. Đó chính là quá trình hoạt động sư phạm của người thầy và hoạt động học tập, rèn luyên của trò mà được diễn ra chủ yếu trong hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học chiếm hầu hết thời gian trong các hoạt động giáo dục đồng thời nó chi phối các hoạt động khác trong nhà trường. Bởi thế quản lí dạy học chính là quản lí quá trình dạy học.
Là sự tác động qui luật của nhà quản lí đến giáo viên bằng các giải pháp phát huy tác dụng của các phương tiện quản lí như bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, nguồn tài lực, vật lực và hệ thống thông tin, môi trường dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học. Do đó quản lí dạy học là một mảng trong quản lí nhà trường và là mảng quan trọng nhất.