phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về kiể m tra đánh giá và quản lí hoa ̣t đô ̣ng kiể m tra - đánh giá trong dạy học tại các trường tiể u ho ̣c. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiể m tra đánh giá và quản lí hoạt động kiể m tra - đánh giá trong dạy học tại trường tiể u ho ̣c Trung Văn quâ ̣n Nam Từ Liêm, Hà Nội. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lí hoạt động kiể m tra - đánh giá trong dạy học tại trường tiể u ho ̣c Trung Văn quâ ̣n Nam Từ Liêm, Hà Nội. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG DA ̣Y HỌC TẠI CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu về quản lí hoạt động đánh giá ho ̣c sinh tiể u ho ̣c 1. Nghiên cứu ngoài nước Thời kì tiền bản chủ nghĩa (thế kỷ XV - XVIII) lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.Comesnky đã đặt nền móng cho lí luận dạy học ở nhà trường và xây dựng thành một hệ thống vấn đề trong tác phẩm “Lí luận dạy học vĩ đại”, trong đó nêu vai trò ý nghĩa của kiểm tra đánh giá quá trình liñ h hội tri thức của học sinh, ông lưu ý việc kiểm tra đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hướng dẫn học sinh tự kiểm tra đánh giá kiến thức của bản thân. Về sau các nhà nghiên cứu lí luận dạy học đã phân tích và phát triển lí luận kiểm tra đánh giá ở các góc độ: vai trò, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc và phương pháp nhằm đảm bảo tính khách quan của việc kiểm tra đánh giá. Bloom cùng George F.Thomas Hastings cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (Đánh giá thúc đẩy học tập ).
Cuốn sách này dành cho giáo viên , viết về ki ̃ thuật đánh giá kết quả học tập của học sinh. Nếu được áp dụng đúng cách việc đánh giá sẽ giúp giáo viên hỗ trợ học sinh cải thiện khả năng học tập. Trọng tâm của cuốn sách này cũng chính là việc tăng cường khả năng học tập của học sinh. Cuốn sách không nhằm giải quyết các vấn đề liên quan dến việc lựa chọn và sử dụng các loại trí tuệ, năng lực tiềm ẩn của các bài kiểm tra thành tích đã được chuẩn hóa - loại hình thường được học sinh các trường tiến hành một đến hai lần một năm, mà hướng tới để hoàn thiện và sử dụng đúng cách một hệ thống các câu hỏi, các bài kiểm tra đánh giá quá trình học tập và các dạng bài kiểm tra khác do giáo viên tự làm được áp dụng cho học sinh hàng năm.
Cuốn sách thông qua việc liên kết các ki ̃ thuật đánh giá tốt nhất, nhằm hỗ trợ các giáo viên sử dụng đánh giá như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học. Ở Liên Xô cũ và các nước XHCN Đông Âu trước đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu về kiểm tra đánh giá, song trên thực tế các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn về kiểm tra đánh giá kiến thức học sinh thông qua các hình thức trắc nghiệm truyền thống như kiểm tra vấn đáp hoặc bài viết (trắc nghiệm, tự luận) chưa 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan tâm đến việc kiểm tra đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan. Vấn đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập được các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả đầu nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm đánh giá kết quả học tập. Từng bước xây dựng hoàn thiện cơ sở lí thuyết cơ sở thực tiễn và quy trình cho kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
Nghiên cứu trong nước Lịch sử khoa cử ở Việt Nam được hình thành khá sớm, các cuộc thi chọn người tài, người có học vấn được tổ chức định kì. Năm 1070 vua Lí Thái Tông cho lập Văn Miếu, và từ đó việc học có bài bản hơn. Người ta xem Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam. Khoa thi đầu tiên được tổ chức năm 1075, đời vua Lí Thái Tông.
Chế độ khoa cử thời phong kiến bắt buộc sĩ tử phải trải qua ba kì thi để đạt học vị cao nhất: thi Hương, thi Hội, thi Đình. Thi cử thời phong kiến có luật khá nghiêm ngặt, thể lệ khắt khe, bất công, nhưng cũng đào tạo được nhiều trí thức tài giỏi, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước. Song giáo dục Nho học không tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. Kế thừa những thành tựu về kiểm tra đánh giá tri thức học sinh của một số nước trên thế giới, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu và nhiều bài viết của các tác giả tiêu biểu được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, các kỉ yếu khoa học trong các cuộc hội thảo cấp quốc gia bàn về kiểm tra đánh giá bàn về kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh.
Những cuốn tài liệu đề cập đến thuật ngữ, cách hiểu về đánh giá với các nguyên tắc đánh giá có thể kể đến: Nguyễn Đức Chính , “Đo lường và đánh giá kế t quả học tập của học sinh” ; “Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học” , (2008); Nguyễn Đức Chin ́ h - Đinh Thi ̣Kim Thoa , “Kiể m tra đánh giá theo mục tiêu” (2005); Nguyễn Đức Chính, Trầ n Khánh Đức, “Đo lường và đánh giá trong giáo dục” (2006) Tác giả Nguyễn Bá Lam ̃ có bài viết “Kiể m tra đánh giá trong dạy học đại học” (2003) Các nghiên cứu đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau song tất cả đều có chung một mục đích là đánh giá sự tiến bộ của người học qua từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học và cuối cùng là đánh giá chất lượng cả quá trình giáo dục. Tuy nhiên các cuốn tài liệu này dừng ở mức độ cung cấp khái niệm mà chưa đề cập đến kĩ thuật đánh giá trong quá trin ̀ h da ̣y ho ̣c bâ ̣c tiể u ho ̣c. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số tài liệu nghiên cứu về đo lường và đánh giá giáo dục bằng phương pháp định lượng được sử dụng trong giảng dạy trong nhà trường như “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập” (2005) của Dương Thiệu Tống. Cuốn tài liệu đã mô tả hệ thống khái niệm về đo lường thành quả học tập, các nguyên lí đo lường, các nguyên tắc viết câu hỏi trắc nghiệm, tổ chức thi và chấm thi, cuốn sách này là một đóng góp rất lớn cho đánh giá giáo dục của Việt Nam.
Như vậy, vấn đề kiểm tra, đánh giá trong dạy học đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của KTĐG có ảnh hưởng đến hiệu quả học tập của học sinh đồng thời đến tổ chức quản lý của cấp quản lý trong nhà trường. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định KTĐG có một ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với người giáo viên, học sinh và nhà quản lý, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản để người học phát hiện và điều chỉnh thực trạng hoạt động học tập góp phần phát triển trí tuệ. Đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về quản lý hoạt động KTĐG trong dạy học ở các trường Tiểu học.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lặp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việc nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động kiể m tra đánh giá trong dạy học tại Trường Tiể u ho ̣c Trung Văn , Nam Từ Liêm, Hà Nô ̣i nói riêng và quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá trong dạy học tại trường tiể u học nói chung. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lí, quản lí nhà trường 1.1 Quản lí Tác giả Trần Kiểm: “Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến”.28] Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.55] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển”.78] Tóm lại: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động”.68] Khái niệm quản lý bao hàm một ý nghĩa chung: là những tác động có tính hướng đích; hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức; quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm; quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một Quốc gia; quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.
Khái quát những phân tích trên, có thể xây dựng mô hình quản lý như sau: Chủ thể quản lý Mục Khách thể tiêu quản lý Đối tƣợng quản lý Sơ đồ 1.