Tổng quan nghiên cứu

Nhu cầu nâng cao trình độ chuyên môn của lực lượng lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã thúc đẩy quy mô đào tạo hệ vừa làm vừa học tăng trưởng vượt bậc. Tại Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội, số lượng sinh viên theo học loại hình này đã tăng nhanh chóng từ 190 sinh viên trong năm học 2006 - 2007 lên 650 sinh viên vào năm học 2009 - 2010, tương ứng mức tăng trưởng hơn 242% chỉ sau 4 năm học. Tuy nhiên, sự mở rộng nhanh về quy mô đặt ra thách thức lớn đối với công tác quản trị nhà trường khi phương thức quản lý còn mang nặng tính thói quen, chắp vá và chưa bắt kịp các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng hiện đại.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng quản lý đào tạo không chính quy, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp quản lý khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ các khâu của quá trình đào tạo tại Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn 4 năm học từ 2006 - 2007 đến 2009 - 2010, trải rộng trên 2 cơ sở đào tạo với tổng diện tích mặt bằng 31.000 m2 và đội ngũ 198 cán bộ, giảng viên, công nhân viên.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc chuẩn hóa các chỉ số quản trị giáo dục, từ việc kiểm soát nghiêm ngặt tỷ lệ chuyên cần tối thiểu 75% số tiết lên lớp của người học đến việc cân đối định mức giảng dạy trung bình 40 tiết một tuần của giảng viên. Luận văn cung cấp giải pháp tái cấu trúc quy trình 38 bước tuyển sinh, tạo cơ sở hoàn thiện chương trình cử nhân cao đẳng và nâng cao tỷ lệ học viên tốt nghiệp đáp ứng đúng yêu cầu của các doanh nghiệp thuộc ngành công thương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nền tảng lý luận của đề tài được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa học thuyết quản lý lao động xã hội của Karl Marx và mô hình quản trị tổ chức hiện đại của Harold Koontz, trong đó nhấn mạnh vai trò của chủ thể quản lý trong việc định hướng, điều hòa các nguồn lực nhằm đạt mục tiêu với chi phí và thời gian tối ưu. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp quan điểm phát triển giáo dục người lớn của Edgar Faure trong công trình Học để tồn tại (1972) và lý thuyết về khủng hoảng giáo dục của Philip Coombs (1968), khẳng định vai trò then chốt của giáo dục không chính quy trong việc thực hiện 4 trụ cột giáo dục theo khuyến nghị của UNESCO gồm học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh 4 khái niệm trung tâm: đào tạo, quá trình đào tạo, hệ vừa làm vừa học và biện pháp quản lý đào tạo. Quá trình đào tạo được tiếp cận như một hệ thống liên hoàn gồm các khâu: tuyển sinh, tổ chức giảng dạy học tập, kiểm tra đánh giá và theo dõi hiệu quả sử dụng sau đào tạo. Khối lượng học tập được tính bằng đơn vị học trình, trong đó 1 đơn vị học trình tương đương 15 tiết lý thuyết, 30 đến 45 tiết thực hành hoặc 15 giờ tự chuẩn bị cá nhân, đồng thời đặt ra yêu cầu người học phải tham gia tối thiểu 75% số tiết học theo quy chế.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2006 - 2010 của nhà trường và dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát thực tế. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 100 người, bao gồm cán bộ quản lý, chuyên viên các phòng chức năng và giảng viên trực tiếp giảng dạy hệ vừa làm vừa học. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn những nhân sự có kinh nghiệm chuyên môn sâu, bảo đảm tính xác thực và đại diện cho toàn thể 198 cán bộ, giảng viên của nhà trường.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa nghiên cứu định tính và thống kê toán học. Thang đo Likert 5 mức độ từ 1 điểm (yếu) đến 5 điểm (rất tốt) được sử dụng để đánh giá thực trạng và đo lường tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất. Điểm trung bình được tính toán theo công thức toán học chuyên dụng để lượng hóa mức độ đồng thuận. Việc phối hợp chặt chẽ giữa quan sát thực tiễn, phỏng vấn chuyên gia và xử lý dữ liệu định lượng là căn cứ vững chắc giúp các nhận định đạt độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô sinh viên hệ vừa làm vừa học tăng liên tục từ 190 sinh viên năm 2006 lên 650 sinh viên năm 2010, tức tăng gấp 3,42 lần. Dù quy mô tăng nhanh nhưng cơ cấu ngành nghề còn mất cân đối nghiêm trọng khi toàn bộ học viên chỉ tập trung ở 3 chuyên ngành: Kế toán tổng hợp (chiếm 38,5% với 250 sinh viên), Kế toán doanh nghiệp (chiếm 30,8% với 200 sinh viên) và Quản trị kinh doanh (chiếm 30,8% với 200 sinh viên), trong khi các khối ngành công nghệ và kỹ thuật chưa được khai thác.

Thứ hai, tiềm lực nhân sự mạnh nhưng chịu áp lực vận hành lớn. Đội ngũ giảng viên chiếm 77,3% tổng số nhân sự (153 trên 198 người), 100% cán bộ quản lý đạt trình độ sau đại học và 70,8% giảng viên thỉnh giảng có học vị Phó Giáo sư hoặc Tiến sĩ. Tuy nhiên, độ tuổi bình quân của cán bộ quản lý lên tới 49 tuổi, tạo nguy cơ hẫng hụt thế hệ kế cận. Đáng chú ý, giảng viên cơ hữu bị quá tải giờ dạy với mức trung bình 40 tiết một tuần, cá biệt có môn lên đến 53 tiết một tuần, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bài giảng.

Thứ ba, cơ sở vật chất phát triển trên diện tích 31.000 m2 tại 2 cơ sở với 45 phòng học lý thuyết, 6 phòng máy tính chứa hơn 340 máy và thư viện có 7.000 đầu sách. Dù vậy, hạ tầng chưa thực sự đồng bộ khi giảng viên muốn sử dụng máy chiếu phải thực hiện thủ tục đăng ký trước 1 ngày, gây rào cản cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy.

Thứ tư, công tác tuyển sinh và đánh giá còn nhiều kẽ hở. Mặc dù vận hành theo quy trình 38 bước, khâu thẩm định hồ sơ xác nhận thâm niên 12 tháng làm việc còn lỏng lẻo. Khâu thi cử dù đã phân tách 3 công đoạn độc lập nhưng việc chấm thi vẫn có tâm lý nương nhẹ điểm số đối với người học vừa làm vừa học.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nêu trên xuất phát từ sự chậm trễ trong việc đổi mới phương thức quản trị, tư duy quản lý còn mang nặng tính hành chính bao cấp và chưa chủ động nghiên cứu thị trường lao động. Khi đối chiếu với bức tranh chung của ngành giáo dục, việc giảng viên phải đảm nhận từ 40 đến 53 tiết dạy trong một tuần là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm động lực nghiên cứu khoa học và chuẩn bị bài giảng.

Dữ liệu khảo sát thực tế có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện mức tăng trưởng sinh viên qua 4 năm học và bảng cơ cấu tỷ lệ phân bổ nhân sự (77,3% giảng viên so với 22,7% khối hành chính). Bảng tổng hợp ý kiến từ 100 chuyên gia cho thấy tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp quản lý đều đạt điểm trung bình cao, dao động từ 4,2 đến 4,8 trên thang điểm 5. Điều này khẳng định việc siết chặt kỷ luật phòng thi, bảo đảm chuẩn đầu ra và công khai kết quả sau 20 ngày là yêu cầu bắt buộc để nâng cao uy tín đào tạo của nhà trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình quản trị và nâng cao năng lực chuyên môn: Ban Giám hiệu chỉ đạo Phòng Quản lý Đào tạo ứng dụng phần mềm số hóa 100% hồ sơ học tập, đồng bộ dữ liệu quản lý sinh viên trong lộ trình 6 đến 12 tháng tại 6 phòng chức năng và 5 khoa chuyên môn.

Thứ hai, đổi mới nội dung chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng: Các Khoa chuyên môn chủ trì rà soát toàn bộ 151 đến 153 đơn vị học trình, giảm 15% thời lượng lý thuyết hàn lâm, nâng tỷ trọng thực hành nghiệp vụ lên mức 40% và cập nhật chế độ tài chính mới trong chu kỳ 12 tháng.

Thứ ba, thực hiện nghiêm ngặt quy trình kiểm tra đánh giá 3 công đoạn độc lập: Phòng Quản lý Đào tạo chủ trì việc tách biệt hoàn toàn giữa người dạy, người bốc thăm đề thi từ ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa và cán bộ chấm thi rọc phách, bảo đảm niêm yết điểm thi công khai trên cổng thông tin trong thời hạn tối đa 20 ngày sau kỳ thi.

Thứ tư, tăng cường thanh tra liên kết và điều chỉnh định mức giảng dạy: Ban Thanh tra phối hợp với các cơ sở đào tạo liên kết duy trì tỷ lệ học viên có mặt trên lớp đạt tối thiểu 75% số tiết, đồng thời điều chỉnh quy chế chi tiêu nội bộ nhằm giảm tải định mức của giảng viên từ 53 tiết xuống dưới mức trần 30 tiết một tuần trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2012.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và quản lý giáo dục tại các trường đại học, cao đẳng: Tiếp cận mô hình quản trị đào tạo không chính quy, phương pháp phân bổ chỉ tiêu hợp lý và áp dụng quy trình 38 bước tuyển sinh chuẩn hóa vào cơ sở đào tạo.

Nhóm giảng viên và chuyên viên quản lý đào tạo: Tham khảo phương pháp xây dựng kế hoạch giảng dạy, cách thức thiết kế khung chương trình từ 151 đến 153 đơn vị học trình và kỹ thuật xây dựng ngân hàng đề thi đánh giá đúng năng lực sinh viên.

Nhóm học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực chứng với mẫu khảo sát 100 người, kỹ thuật xử lý số liệu qua thang đo 5 mức độ và phương pháp luận giải thực trạng giáo dục.

Nhóm doanh nghiệp và các đơn vị liên kết đào tạo: Nắm bắt chuẩn đầu ra của 8 mã ngành đào tạo cao đẳng kinh tế, từ đó phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc đặt hàng đào tạo nhân lực và quản lý quá trình học tập của cán bộ công nhân viên.

Câu hỏi thường gặp

Thời gian và khối lượng học tập của hệ vừa làm vừa học trình độ cao đẳng được quy định như thế nào? Thời gian đào tạo kéo dài từ 3 đến 3,5 năm với tổng khối lượng từ 151 đơn vị học trình đối với ngành Quản trị kinh doanh đến 153 đơn vị học trình đối với ngành Kế toán. Người học bắt buộc phải tham gia tối thiểu 75% số tiết lên lớp thực tế để đủ điều kiện dự thi kết thúc học phần.

Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng quá tải trong công tác giảng dạy của giảng viên? Do số lượng sinh viên tăng nhanh đạt mốc 650 người trong khi quy mô giảng viên cơ hữu gồm 153 người phải đảm nhận nhiều hệ đào tạo. Giảng viên phải dạy trung bình 40 tiết một tuần, thậm chí lên tới 53 tiết một tuần, làm hạn chế thời gian tự bồi dưỡng và đổi mới phương pháp.

Quy trình tuyển sinh hệ vừa làm vừa học gồm những nội dung trọng tâm nào? Quy trình gồm 38 bước chặt chẽ, bao gồm khảo sát nhu cầu, tiếp nhận hồ sơ có xác nhận thâm niên 12 tháng làm việc, tổ chức thi tuyển, dồn túi rọc phách, chấm thi độc lập và niêm yết điểm thi công khai cho thí sinh trong vòng 20 ngày sau khi thi.

Mô hình kiểm tra đánh giá tách biệt 3 công đoạn mang lại lợi ích gì cho nhà trường? Mô hình tách biệt khâu giảng dạy, ra đề thi và chấm thi thành 3 công đoạn độc lập giúp xóa bỏ sự nể nang, hạn chế tối đa tiêu cực và đánh giá chính xác năng lực thực chất của 650 sinh viên, bảo đảm tính công bằng tuyệt đối trong cấp văn bằng.

Cơ sở vật chất của nhà trường đáp ứng quy mô đào tạo thực tế ra sao? Với diện tích 31.000 m2 tại 2 cơ sở, 45 phòng học lý thuyết, 6 phòng máy tính với 340 máy và 7.000 đầu sách thư viện, cơ sở vật chất bảo đảm phục vụ tốt quy mô đào tạo từ 10.000 học sinh sinh viên dài hạn và 700 đến 1.000 cán bộ bồi dưỡng ngắn hạn.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học, khẳng định sự kết hợp hài hòa giữa việc giữ vững kỷ cương tổ chức và nâng cao chất lượng đào tạo.
  • Công trình đã lượng hóa toàn diện thực trạng đào tạo tại Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội trong 4 năm học (2006 - 2010), chỉ rõ bước tiến tăng trưởng quy mô từ 190 lên 650 sinh viên cùng các hạn chế về định mức giảng dạy 53 tiết một tuần.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ gồm chuẩn hóa 38 bước tuyển sinh, đổi mới khung chương trình 153 đơn vị học trình và phân tách độc lập 3 khâu thi cử.
  • Lộ trình triển khai giai đoạn 2010 - 2015 đặt trọng tâm vào chuyển đổi số quản trị đào tạo, bồi dưỡng 100% chuyên viên và phát triển các chuyên ngành đón đầu nhu cầu của ngành công thương.
  • Các nhà quản lý giáo dục cần chủ động triển khai ngay các biện pháp quản lý hiện đại nhằm xây dựng chuẩn mực chất lượng bền vững, đáp ứng nguồn nhân lực thực hành giỏi cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước.