phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Cao đẳng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trước những năm 60 giáo dục nhà trường (giáo dục chính quy) chiếm vị trí “độc tôn” trong sự nghiệp giáo dục của các nước trên thế giới. Năm 1968 xuất hiện tác phẩm nổi tiếng của Ph.Combs “khủng hoảng giáo dục trên phạm vi thể giới”. Trong tác phẩm này đề cập đến 4 vấn đề sau: - Giáo dục nhà trường không đủ đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người.
- Học vấn trong nhà trường thậm chí cả nhà trường đại học không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. - Kiến thức học trong nhà trường quá ít ỏi và chóng lạc hậu. - Giáo dục không chính quy mới gợi ý cho giáo dục thoát khỏi khủng hoảng đó.5] Đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX Edgar Farue, 1972 đã cho xuất bản cuốn sách "Học để tồn tại" đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục người lớn đặt trong khuôn khổ của giáo dục suốt đời, xã hội học tập được đưa ra bàn luận và nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đã cần phải có quan niệm rộng về giáo dục: Giáo dục người lớn, giáo dục thường xuyên, giáo dục không chính quy phải được coi là bộ phận chủ yếu quan trọng cùng với nhà trường chính qui cần cung cấp cơ hội học tập suốt đời. Đây là định hướng cho cải cách giáo dục đương thời.
Hiện nay nguyên lý “giáo dục cho mọi người - mọi người cho giáo dục” cũng như nguyên lý “học suốt đời” đang thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục - Đào tạo ở nước ta nói riêng và nhiều nước trên thế giới nói chung theo 04 tiêu chí giáo dục được UNESCO khuyến cáo: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người”. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc quản lý chất lượng đào tạo trong những năm qua đã được sự quan tâm của các nhà khoa học, nhiều nhà quản lý đặc biệt là các trường đại học, các viện nghiên cứu. Nhiều công trình đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí: - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệm của các quốc gia”. NXB Chính trị quốc gia, HN, 2002.
[32] - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục .“Cơ sở lý luận - thực tiễn và chính sách quốc gia quản lý nhà nước về giáo dục” Kỷ yếu hội thảo khoa học,2003. Ngoài ra còn có khá nhiều công trình đề cập đến công tác quản lý chất lượng đào tạo. Song, phần lớn các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia giáo dục tập trung phần nhiều vào việc nghiên cứu các chiến lược giáo dục, xây dựng các loại hình đào tạo hoặc xây dựng các chương trình, dự án phát triển giáo dục, còn các nghiên cứu về hệ đào tạo vừa làm vừa học thì hầu như rất ít. Ở Bộ Công thương, chỉ có một công trình nghiên cứu về vấn đề này: - Bộ Công nghiệp nặng.
“Mấy vấn đề đào tạo tại chức ở xí nghiệp công nghiệp”, Nxb Lao động, 1970 [5]. Còn lại những công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo hệ không chính qui chủ yếu dừng lại ở cấp độ một luật văn thạc sĩ. - Riêng trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội chưa có đề tài nghiên cứu về quản lý hệ vừa làm vừa học. Vì vậy việc nghiên cứu biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học là vấn đề rất cấp thiết trong hoạt động hiện nay của nhà trường.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm đào tạo Quản lý có khoa học, có hiệu quả của nhà trường trong giai đoạn phát triển như hiện nay nhằm đáp ứng những yêu cầu đổi mới của đất nước, phải 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính toán đến những quy luật chung của sự quản lý, đồng thời phải nắm vững quy luật đặc thù chi phối nhà trường, đây là vấn đề hết sức quan trọng. “Đào tạo thường được hiểu là cung cấp, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, khoa học, kỹ thuật, công nghệ. là việc tạo nguồn nhân lực để giải quyết một vấn đề, làm một việc gì đó để đạt kết quả.
Đó có thể là một nhiệm vụ đơn giản, một hệ thống nhiều nhiệm vụ, có thể là một nghề, một dự án.” [34] Hai nhiệm vụ chính của một quá trình đào tạo là: - Cung cấp tiềm năng, tiềm lực cho người học. - Cung cấp khả năng vận dụng những tiềm năng đó thành những kỹ năng riêng của mình trong thực tiễn. * Đào tạo được thể hiện: - Đào tạo gắn với một vấn đề, một kỹ năng hoặc một dự án cụ thể. - Đào tạo dạy nghề để nâng cao một tay nghề cụ thể nào đó hoặc những hành động, thao tác cụ thể để làm một việc cụ thể.
- Đào tạo chung để nâng cao trình độ. Quá trình đào tạo Quá trình đào tạo hiểu theo nghĩa hẹp, là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động của nhà trường. Do đó quản lý quá trình đào tạo là bộ phận chủ yếu nhất trong toàn bộ công tác quản lý của nhà trường. Sự phân hóa của quá trình đào tạo trong nhà trường chính là nền tảng để phân hóa chức năng, xác định cơ chế tổ chức quản lý và tổ chức chỉ đạo hoạt động đào tạo.
Quá trình đào tạo do nhà trường quản lý nhưng nó quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức đào tạo khác hoặc các tổ chức, cơ quan khác mà sinh viên có điều kiện tham gia hoạt động. Theo Nguyễn Đức Trí “Quản lý quá trình đào tạo có nhiệm vụ quản lý sự hoạt động của cán bộ, giảng viên, sinh viên. Vì vậy, có thể xem quản lý quá trình đào tạo về thực chất đó là quản lý các hoạt động của giảng viên, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh viên trong thực hiện kế hoạch và nội dung chương trình đào tạo của nhà trường”.25] Quá trình đào tạo có thể được xem là một hệ thống xã hội bao gồm các thành tố chính sau: Mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, đánh giá chương trình đào tạo. Nếu xét theo tính chất công việc thì quá trình đào tạo bao gồm các công việc sau: Tuyển sinh, đào tạo, thực tập, thi tốt nghiệp, theo dõi sau đào tạo.
Trong đó mỗi giai đoạn lại bao gồm những công việc nhất định, cụ thể là: - Giai đoạn tuyển sinh bao gồm: Thông báo tuyển sinh; Thu nhận hồ sơ tuyển sinh; Lập Hội đồng tuyển sinh (Danh sách Hội đồng, ban đề thi, ban coi thi, ban chấm thi, ban thư ký.); Thi tuyển sinh; Chấm thi tuyển sinh; Xét điểm chuẩn, công nhận danh sách trúng tuyển; Gửi giấy báo trúng tuyển, Nhập học. - Giai đoạn đào tạo bao gồm: Kế hoạch tiến độ đào tạo, kế hoạch giảng dạy, thi học kỳ hàng năm; Thực hiện việc giảng dạy, thi kiểm tra các học phần, thực tập tốt nghiệp, xét học tiếp, ngừng học để củng cố kiến thức, buộc thôi học, xét điều kiện thi tốt nghiệp, đồ án, khóa luận, thi tốt nghiệp, công nhận kết quả thi tốt nghiệp, đồ án, khóa luận, tổng kết phát bằng tốt nghiệp. - Giai đoạn sau đào tạo (Theo dõi hiệu quả sử dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp): + Sử dụng đúng chuyên môn đào tạo (Hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ, chưa hoàn thành nhiệm vụ) + Sử dụng khác chuyên môn đào tạo (Hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ, chưa hoàn thành nhiệm vụ) Mỗi giai đoạn kể trên có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình đào tạo. Nếu chất lượng tuyển sinh tốt, có sự sàng lọc cao, điểm chuẩn cao thì giai đoạn đào tạo sẽ thuận lợi, kết quả đào tạo cao và sinh viên tốt nghiệp có nhiều cơ hội làm việc tốt.
Giai đoạn đào tạo là quan trọng nhất, thực tiễn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đào tạo ở các trường Đại học, Cao đẳng cho thấy rằng nếu đầu vào tuyển sinh ở mức độ nhất định nhưng có quá trình đào tạo tốt (thầy dạy tốt, quản lý đào tạo tốt.) thì kết quả đào tạo cũng rất cao, được xã hội ghi nhận, giai đoạn sau đào tạo cũng có một vị trí quan trọng, các thông tin về tình hình sử dụng cán bộ sau đào tạo sẽ giúp cho nhà trường bổ sung, điều chỉnh những vấn đề cần thiết trong các giai đoạn tuyển sinh, đào tạo. Mối quan hệ trên được thể hiện ở sơ đồ dưới. Hình 11: Sơ đồ khối quá trình đào tạo Tuyển sinh Đào tạo Sử dụng sau đào tạo Liên hệ ngƣợc 1. Hệ vừa làm vừa học Đào tạo tại chức là loại hình đào tạo dành cho đa số người vừa làm vừa học để hoàn thiện kiến thức chuyên môn hoặc muốn học thêm một ngành khác với ngành mình đang làm.
Học tại chức thường học buổi tối, chương trình gần giống với hệ chính quy, được cấp bằng tại chức. Trong thực tiễn hiện tại có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hệ vừa làm vừa học, trong luận văn này, chúng tôi dựa vào quan điểm được nêu trong Nghị định và các văn bản pháp quy của Nhà nước ta về vấn đề đào tạo vừa làm vừa học như sau: Giáo dục thường xuyên được thực hiện bằng nhiều hình thức (như không tập trung, không chính quy, vừa làm vừa học, bổ túc, từ xa…), nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân ở mọi trình độ có thể học tập thường xuyên, suốt đời, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng người, tạo ra một xã hội học tập, đáp ứng những nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, văn học và nghệ thuật. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.