phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn được trình bày trong ba chương có tên như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng HĐD-H tiếng Anh. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý HĐD-H tiếng Anh tại trường CĐSP Hà Tây. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng HĐD-H tiếng Anh tại trường CĐSP Hà Tây. Cuối luận văn là phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG DẠY- HỌC TIẾNG ANH 1.
Một số khái niệm cơ bản về quản lý 1. Khái niệm quản lý và các chức năng quản lý 1. Khái niệm quản lý Quản lý (QL) là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người. Nó “xưa cũ như chính con người vậy” [20, Tr.
Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình QL và dần dần hình thành các “lý thuyết quản lý”. Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau: K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [42, Tr. Taylor: là người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải QL chặt chẽ”.
“QL là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng PP tốt nhất và rẻ tiền nhất” [21, Tr. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [40, Tr. Mary Parker Follett (1868-1933) đã có những đóng góp lớn lao trong thuyết hành vi trong quản lý khẳng định: “Quản lý là một quá trình lao động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại” [19, Tr. Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục đích, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [33, Tr. Hoặc “Quản lý là một hoạt động thiết yếu , nó đảm bảo phối những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức quản lý là khoa học” [ 34, Tr.
Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả: Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: hoạt động quản lý là “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [18, Tr. “QL là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, trong một tổ chức chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, các PP và biện pháp cụ thể, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục tiêu mong muốn thông qua kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra”. Như vậy, khái niệm QL được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau song có thể hiểu QL là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Bản chất và các chức năng của quản lý Bản chất của quản lý Bản chất của hoạt động QL là sự tác động có mục đích đến tập thể người nhằm thực hiện mục tiêu QL.
Trong GD-ĐT đó là tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể GV, học sinh - sinh viên (HSSV) và các lực lượng giáo dục khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu quản lý giáo dục (QLGD). QLGD có bản chất vì lợi ích phát triển giáo dục nhằm mục tiêu tối thượng là hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục, đối tượng giáo dục và chủ thể giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH. Bản chất đó được thể hiện ở sơ đồ sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chủ thể quản Khách thể lý quản lý Mục tiêu quản lý Nội dung Công cụ, PP quản lý quản lý Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý Trong khái niệm QL gồm các yếu tố cơ bản: - Chủ thể quản lý: là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức tạo ra những tác động quản lý. Nó trả lời câu hỏi: ai quản lý? - Khách thể quản lý: là đối tượng tiếp nhận các tác động QL.
Khách thể quản lý là người (trả lời câu hỏi: quản lý ai?, là vật (trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?) hoặc sự việc (trả lời câu hỏi quản lý cái gì?) - Mục tiêu quản lý: là trạng thái tương lai của đối tượng QL được xác định bởi nhiệm vụ QL và các điều kiện, phương tiện, hoàn cảnh trong quá trình thực hiện QL. Nói một cách tổng quát: “QL là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”. Các chức năng cơ bản của quản lý Theo quan điểm phổ biến hiện nay, QL là hệ thống gồm bốn chức năng là: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra cùng với các hoạt động chung là thông tin và quyết định. Thông tin là mạch máu của QL.
Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.2 : Sự liên kết các chu trình quản lý 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lập kế hoạch: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý. - Tổ chức: Sự chuyển hóa những ý tưởng trong kế hoạch thành hiện thực. - Chỉ đạo: Điều kiện hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo, nó tích hợp với hai chức năng trên. - Kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của QL.
Trong một chu trình QL cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối mật thiết với nhau giữa chu trình này sang chu trình theo hướng phát triển. Quản lý giáo dục; quản lý nhà trường 1. Quản lý giáo dục QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của con người. Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến QLGD phải nói đến quản lý nhà trường (QLNT) cùng với hệ thống QLGD [21, Tr.
Trong cuốn Giáo dục học, Phạm Viết Vƣợng đã viết: “Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội” [49, Tr. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức các HĐD-H. Có tổ chức được các HĐD-H, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới QL được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [30, Tr. QLGD dựa theo nghĩa tổng quan còn là hoạt động điều hành, phối hợp các hoạt động xã hội nhằm duy trì trạng thái của các hoạt động đó theo hướng ổn định, thích ứng, tăng trưởng, phát triển và đẩy mạnh công tác giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân.
QLGD là một loại hình của QL xã hội. Có nhiều định nghĩa khác nhau về QLGD: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. - QLGD là quá trình tác động có ý thức, được định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố của các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục một cách có hiệu quả. Tóm lại, bản chất của QLGD là quá trình tác động có tính định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.
Các thành tố đó là mục tiêu giảng dạy, nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy (PPG-D), lực lượng giáo dục (GV), đối tượng giáo dục (HSSV), phương tiện giáo dục (CSVC). Quản lý nhà trường Nhà trường là một thiết chế hiện thực hóa sứ mệnh của nền giáo dục trong đời sống KT-XH. Nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết chế sư phạm đơn thuần. Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “Nhân cách- Sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng cả nguồn vốn người (human capital), vốn tổ chức (organizational capital), và vốn xã hội (social capital) [13, Tr.