phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cầu bởi 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự Chƣơng 2: Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành Chƣơng 3: Thực tiễn thực thi quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, ý nghĩa của quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự 1. Khái niệm quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự 1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự “ Khởi kiện là hành vi đầu tiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự „ [3, tr 230].
Thống nhất với quan điểm trên, theo TS. Hoàng Ngọc Thỉnh thì “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể…Việc thực hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện vụ án dân sự” và “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tố chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác”[4, tr238]. Khởi kiện trƣớc hết là quyền dân sự của các chủ thể, là phƣơng thức mà các chủ thể yêu cầu toà án bảo vệ quyền dân sự cho mình, cho nhà nứớc hoặc ngƣời khác. Quyền dân sự này đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện nó đƣợc thể hiện bằng việc toà án xem xét, thụ lý và giải quyết.
Khi Nhà nƣớc ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đƣợc ghi nhận bằng pháp luật của Nhà nƣớc và bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nƣớc thiết lập. Theo đó, quyền khởi kiện của cơ quan tổ chức, cá nhân đã đƣợc pháp luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nƣớc quy định bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của mình. Trong cổ luật La Mã, đã có những quy định đầu tiên về quyền khởi kiện của công dân La Mã. Theo đó khi có hành vi xâm phạm quyền tƣ pháp của cá nhân thì ngƣời có quyền lợi bị xâm phạm bên cạnh việc sử dụng hình thức tự trấn áp, họ còn có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình.
Ngƣời bị vi phạm có thực 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện quyền khởi kiện hay không, điều này pháp luật không bắt buộc mà phụ thuộc vào ý chí của ngƣời đó [4, tr 212]. Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, quyền khởi kiện đƣợc ghi nhận là một quyền con ngƣời trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các công ƣớc quốc tế khác. Quyền khởi kiện là một trong những nhóm quyền tố tụng thuộc quyền con ngƣời và suy cho cùng thì quyền khởi kiện là quyền của một chủ thể trong mối quan hệ xã hội đƣợc pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo tốt nhất cho những quyền, lợi ích hợp pháp của mình đƣợc thực hiện. Theo các nhà nghiên cứu về tố tụng của Pháp thì “tố quyền” là khả năng đƣợc thừa nhận đối với cá nhân đƣợc yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt đƣợc sự tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Theo từ điển thuật ngữ luật học của Pháp thì tố quyền trƣớc công lý là khả năng đƣợc thừa nhận đối với các chủ thể đƣợc cầu viện tới công lý để đạt đƣợc sự tôn trọng các quyền lợi và lợi ích chính đáng. Theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự mới của Pháp thì thuật ngữ “action” – “tố quyền” đƣợc dịch là quyền tham gia tố tụng theo đó “quyền tham gia tố tụng đối với ngƣời có yêu cầu là quyền đƣợc trình bày về nội dung yêu cầu của mình để Thẩm phán quyết định xem xét yêu cầu nhƣ vậy là có căn cứ hay không có căn cứ; đối với bên bị kiện quyền tham gia tố tụng là quyền đƣợc tranh luận về căn cứ của yêu cầu do bên kia đƣa ra”[4, tr23]. Ở Việt Nam, về phƣơng diện lý luận thì nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh cho rằng “tố quyền tức là có quyền đi kiện”[6, tr23]. Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳng định trong Giáo trình Luật tố tụng dân của trƣờng Đại học Luật Hà Nội 1994 rằng “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể của Nhà nƣớc hay của ngƣời khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm”[7, tr109-110].
Khái niệm này dƣờng nhƣ không đề cập tới các việc không có tranh chấp nhƣng nghiên cứu về khái niệm vụ án dân sự trong Giáo trình này” [7,tr6-7], Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 và thực tiễn tố tụng tại Toà án thì có thể khẳng định trong khái niệm trên quyền khởi kiện đƣợc thực hiện đối với cả các việc dân sự không có tranh chấp. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong lịch sử pháp lý nƣớc ta, có thời kỳ khái niệm quyền khởi kiện đƣợc hiểu theo nghĩa rất rộng và đồng nhất với quyền yêu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo BLTTDS hiện nay. Theo đó, quyền khởi kiện đƣợc hiểu là khả năng Nhà nƣớc cho phép công dân đƣợc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi cho rằng quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động. Tuy nhiên, trên cơ sở kế thừa BLTTDS 2004, BLTTDS năm 2015 đã tách thủ tục giải quyết vụ án dân sự trƣớc đây thành hai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự nên khái niệm quyền khởi kiện đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn trƣớc đây, quyền khởi kiện vụ án dân sự không còn bao hàm cả quyền yêu cầu xem xét về việc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý hoặc các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thƣơng mại, lao động nhƣ trƣớc đây nữa mà quyền khởi kiện vụ án dân sự đƣợc hiểu là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong vụ án dân sự.
Phan Chí Hiếu thì: “quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nƣớc, tập thể hay của ngƣời khác đang bị tranh chấp hoặc bị vi phạm” [7, tr305]. Nhƣ vậy, quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi quyền hạn của mình yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nƣớc thuộc lĩnh vực cơ quan, tổ chức của mình phụ trách khi quyền, lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Các phân tích ở trên cho thấy rằng xét về bản chất thì quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm. Theo những kết quả nghiên cứu trên thì bản chất của quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm.
Ở đây cần phân biệt khái niệm vụ án dân sự và việc dân sự. Trƣớc khi BLTTDS 2004 đƣợc ban hành đã tồn tại ba khái niệm vụ án dân sự, vụ án kinh tế và vụ án lao động. Khái niệm vụ án dân sự không bao gồm các tranh chấp phát sinh từ quan hệ lao động, kinh doanh, thƣơng mại, Vụ án dân sự chỉ bao gồm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình nhƣ: tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những việc tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết. mà đƣợc tòa án thụ lý giải quyết.
BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2015 đều không đƣa ra khái niệm về vụ án dân sự mà chỉ liệt kê những loại việc nào đƣợc xác định là vụ án dân sự, loại việc nào đƣợc xác định là yêu cầu dân sự, cụ thể tại điều 1 BLTTDS năm 2015 quy định “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án;”. Nhƣ vậy, có thể hiểu, Vụ án dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS. Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu nội dung khởi kiện vụ án dân sự mà không nghiên cứu về yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự. Chủ thể của quyền khởi kiện là ai? Hay ai là ngƣời có thể thực hiện quyền khởi kiện? Có 2 quan điểm khác nhau về chủ thể của quyền khởi kiện.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền khởi kiện là quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn.