Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH CHỨNG MINH TRONG PHÁP LUAT TO TUNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Chế định chứng minh va cơ sở, phương pháp luận của chế định chứng minh trong Pháp luật tố tung dân sự Việt Nam 1. Khái niệm chế định chứng minh Về mặt lý luận, hệ thống pháp luật được chia ra các ngành luật. Các ngành luật được chia ra các phân ngành luật và các chế định pháp luật.
Các phân ngành luật và các chế định pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật. Trong khoa học pháp lý, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự được gọi là “Tố tụng dân sự” và tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tô tụng dân sự thành một ngành luật được gọi là Luật tố tụng dân sự. “Luật tố tụng dân sự Việt Nam là ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phat sinh trong tố tụng dân sự để đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự nhanh chóng, đúng đắn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và lợi ích của Nhà nước.| L] Như vậy, Tố tụng dân sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau như khởi kiện, lập hồ sơ, hòa giải vụ việc dân sự đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ việc dân sự và xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Quá trình giải quyết các vụ việc dân sự làm phát sinh các quan hệ khác nhau giữa Tòa án, Viên kiểm sát và những người tham gia tố tụng.
Điều chỉnh các quan hệ này, Pháp luật tố tụng dân sự có nhiều chế định khác nhau, trong đó chế định chứng minh là một chế định trung tâm. Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự thực chất là một chế định của Pháp luật tố tụng về chứng minh. Vì vậy, muốn tìm hiểu khái niệm chế định chứng minh trong tố tụng dân sự trước hết phải bắt đầu bằng việc làm sáng tỏ khái niệm chứng mnnh. Theo Từ điển tiếng Việt, cụm từ “chứng minh” dùng để chỉ dạng hoạt động phổ biến của con người trong đời thường (ví dụ như chứng minh khi tranh luận trong các cuộc hội thảo, chứng minh khi phát biểu bảo vệ quan điểm trên các diễn đàn.) nhằm “lam cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bang ly lể" {102, tr.
Trong tố tụng dân sự, chứng minh cũng là một dạng hoạt động, nhưng không phải là hoạt động trong đời thường mà là hoạt động tố tụng, cụ thể là hoạt động sử dụng chứng cứ với mục đích khôi phục lại trước Tòa án vụ việc dân sự đã xảy ra trong những nét chính xác và tỷ mỉ nhất có thể có, qua đó Tòa án có thể khẳng định có hay không có các sự kiện, tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ việc dân sự. Tuy nhiên, hoạt động sử dụng chứng cứ trong tố tụng dân sự không thể được tiến hành một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của Tòa án hay của các chủ thể tham gia tố tụng mà phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Pháp luật tố tụng dân sự về sử dụng chứng cứ thông qua các hoạt động tố tụng cụ thể, bao gồm hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ. Tất cả các hoạt động này là các yếu tố hợp thành chứng minh hay nội dung của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự. Nói một cách khác, trong TTDS chứng minh là hoạt động tố tụng trong đó các chủ thể tố tụng bằng những biện pháp do pháp luật quy định làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự.
Như vậy, có thể hiểu: Chế định chứng mình trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát và những người tham gia tốtụng dân sự trong hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ nhằm làm sáng to sự thật khách quan của vụ việc dân sự. Xuất phát từ khái niệm nêu trên, chúng tôi cho rằng, nghiên cứu chế định chứng minh trong tố tụng dân sự, chung quy lại, chính là nghiên cứu quy định của pháp !uật tố tụng về nội dung của hoạt động chứng minh, bao gồm các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động chứng mình trong tố tụng dân sự Việt Nam Hoạt động chứng minh là một hoạt động then chốt và quan trọng nhất được chế định chứng minh điều chỉnh trong suốt quá trình tố tụng kể từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc dân sự cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự được hiểu là: Tổng thể các hoạt động của Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ dựa trên quy luật của hoạt động nhận thúc các quy định của pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng, tập quán và các tình tiết, sự kiện cần chứng minh và bằng niêm tin nội tâm của các chủ thể chứng mình trong mỗi một quan hệ pháp luật dân sự cụ thé, nhằm mục đích sử dụng chứng cứ để xác định sự that khách quan của vụ, việc dân sự.
Hoạt động chứng minh trong TTDS Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau: - Hoạt động chứng minh là một quá trình nhận thức được diễn ra trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể chứng minh. Cụ thể, bao gồm: hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ. Dưới khía cạnh quá trình tổ tụng, các hoạt động này được phân ra làm các giai đoạn: giai đoạn cung cấp chứng cứ, giai đoạn thu thập chứng cứ, giai đoạn nghiên cứu chứng cứ và giai đoạn đánh giá chứng cứ. Các giai đoạn của quá trình chứng minh tổng hợp thành một thể thống nhất trong hoạt động chứng minh của Tòa án và những người tham gia tố tụng khác.
Xét trong tính lôgíc các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ có mối quan hệ biện chứng với nhau, giai đoạn này là nền tang của giai đoạn kia. - Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự được mở ra bắt đầu từ thời điểm đương sự khởi kiện ra Tòa và Tòa án tiến hành các hoạt động thụ lý giải quyết vụ, việc dân sự. Hoạt động này khép lại bằng việc đánh giá sử dụng chứng cứ. Các phán quyết của Tòa án đối với yêu cầu của đương sự là kết quả của hoạt động này.
- Hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ do các chủ thể chứng minh thực hiện phải tuân thủ theo đúng các quy định của Pháp luật tố 10 tung dan sự nhằm làm sáng tỏ sự that khách quan của vụ, việc dân sự. Các giai đoạn của hoạt động chứng minh có mối quan hệ khăng khít với nhau tạo thành một quá trình thống nhất. Giai đoạn trước là điều kiện, tiền dé cho giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước, không có hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ thì không có hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Hoạt động đánh giá chứng cứ là cơ sở để xác định kết quả, chất lượng của hoạt động thu thập, cung cấp, nghiên cứu chứng cứ.
Việc phân chia hoạt động chứng minh thành các giai đoạn cụ thể nhằm giúp định hướng những nhiệm vụ mà các chủ thể chứng minh phải giải quyết, hướng tới mục đích cuối cùng là xác định chân lý khách quan, tạo cơ sở để giải quyết đúng đắn vụ, việc dân sự. - Hoạt động chứng minh (hay chứng minh) thực chất là hoạt động sử dụng chứng cứ thông qua các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Trong hoạt động cung cấp chứng cứ, đương sự sử dụng chứng cứ bằng cách áp dụng những quy định của pháp luật về cung cấp chứng cứ. Trong hoạt động thu thập chứng cứ, Tòa án và các chủ thể tham gia tố tung sử dung chứng cứ bang cách áp dụng những quy định của pháp luật về thu thập chứng cứ.
Cũng như vậy, trong hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, các chủ thể chứng minh sử dụng chứng cứ bằng cách áp dụng quy định của pháp luật về nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Cơ sở phương pháp luận của chế định chứng minh trong tố tung dân sự Việt Nam Lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác-Lênin thông qua việc áp dụng các cặp phạm trù cơ bản và các quy luật của phép biện chứng duy vật là cơ sở của việc hình thành các quy định về chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam nói riêng và trong lĩnh vực tố tụng nói chung. Sự thật khách quan trong vụ, việc dan sự được nhận thức như chân lý, sự thật này đòi hỏi Tòa án và những người tham gia tố tụng khác phải hoàn thành nhiệm vụ tố tụng của mình trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và chính xác. Từ nguyên lý thế giới thống nhất ở tính vật chất, thế giới vật chất luôn vận động và phát triển, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn có mối liên hệ phổ 1] biến tác động nhau, ràng buộc nhau, quy định va chuyển hóa lẫn nhau.
Phép biện chứng duy vật đã chỉ ra: “Hết thdy moi vật chất đều có đặc tính về bản chất gan giống như cảm giác, đặc tính phản ánh” [36, tr. Quá trình phản ánh các sự vật, hiện tượng có thể tồn tại dưới hai dạng là phản ánh vật chất và phan ánh tinh thần. Sự phản ánh tồn tại khách quan đòi hỏi phải nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách toàn diện trong sự vận động, phát triển. Chính lý luận nhận thức này đã tác động đến việc hình thành nên quan niệm về chứng minh và khoa học về chứng minh trong các loại hình tố tụng.