CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái quát chung về hoạt động xét xử vụ án hình sự của tòa án nhân dân 1. Khái niệm hoạt động xét xử Hoạt động xét xử của Tòa án là “hoạt động của các cơ quan và các cá nhân được căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề pháp lý và đưa ra những quyết định pháp lý có tính chất bắt buộc”[56, tr. Cụ thể hơn, theo tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc, hoạt động xét xử là “hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi vi phạm pháp luật”[14, tr.
Tố tụng hình sự là một quá trình mà ở đó cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,…thực hiện những hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích cuối cùng là có tội phạm xảy ra hay không? Có hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện hay không? Nếu có thì ở mức độ nào?,…trong quá trình này đòi hỏi phải có sự nỗ lực, trách nhiệm để làm sáng tỏ vụ án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Trong phạm vi của luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến giai đoạn xét xử vụ án hình sự mà cụ thể hơn là hoạt động xét xử vụ án hình sự của các chủ thể có thẩm quyền, những tổ chức, những người có liên quan đến hoạt động xét xử. Vậy xét xử vụ án hình sự là gì? Chúng có những đặc điểm gì? Với mục đích gì và xét xử bằng cách thức nào?.Có ý kiến cho rằng: xét xử các vụ án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, là giai đoạn quan trọng nhất trong suốt quá trình tố tụng. Hoạt động xét xử là 7 tập trung cao nhất quyền tư pháp.
Trong hoạt động này, Tòa án nhân danh nhà nước quyết định tội danh, hình phạt và những vấn đề khác có liên quan đến hành vi phạm tội. Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân thì: “Xét là suy nghĩ để hiểu rõ hơn cho từng gốc ngọn, cho ra vắn dài. Tìm hiểu cân nhắc xem nên giải quyết thế nào”. Còn xét xử theo tác giả là “Tòa án nghiên cứu tội lỗi của phạm nhân để xử án”[32, tr.
Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ thì: “xét” là tìm hiểu, cân nhắc kĩ để nhận biết, đánh giá, kết luận về cái gì đó. “Xét xử” là xem xét và xử các vụ án”[55, tr. Khái niệm hoạt động xét xử trong tố tụng hình sự đi sâu vào lĩnh vực chuyên ngành nên cũng có những cách đánh giá riêng. Tuy nhiên, bản chất vẫn là sự tìm ra và làm rõ vấn đề, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng nhất.
Đảm bảo tính pháp chế XHCN, bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, đảm bảo sức mạnh cưỡng chế của nhà nước đồng thời tuyên truyền phổ biến pháp luật một cách có hiệu quả nhất. Vậy, xét xử vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự; trong đó Tòa án kiểm tra, đánh giá toàn bộ chứng cứ, trên cơ sở đó vận dụng đúng đắn pháp luật hình sự để xác định một người có hành vi phạm tội hay không. Nếu phạm tội thì buộc người phạm tội phải chịu một hình phạt tương xứng với hành vi đó của họ. Từ đó hoạt động xét xử là hoạt động của những người có thẩm quyền tham gia vào việc xét xử vụ án hình sự.
Đặc điểm của hoạt động xét xử vụ án hình sự Nhìn chung hoạt động xét xử có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, Đây là hoạt động của những người có thẩm quyền được nhà nước quy định. Là những người được phân công giải quyết vụ án tại thời điểm phiên tòa diễn ra. Cụ thể là hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, hoạt động nói chung của các thành viên HĐXX tại tòa. Những người tham gia khác như Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, luật sư, người bào chữa, người có 8 quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị cáo,…hỗ trợ cho việc xét xử.
Thứ hai, Hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Những người được giao nhiệm vụ xét xử họ đại diện cho ý chí của nhà nước nói riêng và ý chí của toàn dân nói chung. Cụ thể, kết quả xét xử là bản án được tuyên. Thứ ba, Hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động áp dụng các văn bản pháp luật tố tụng hình sự và văn bản pháp luật hình sự.
Tại phiên tòa xét xử, ngoài việc tiến hành các hoạt động xét hỏi, đánh giá chứng cứ, tranh luận,…Trong đó, hoạt động có ý nghĩa và quan trọng là áp dụng pháp luật liên quan để giải quyết vụ án. Thứ tư, Hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động mang tính trí tuệ, linh hoạt. Đôi khi có những quy định của pháp luật chưa rõ thì đòi hỏi người làm công tác áp dụng pháp luật phải nhạy bén, quyết định thế nào vừa hợp pháp vừa hợp lý. * Phiên tòa sơ thẩm hình sự có những đặc điểm khác so với phiên tòa sơ thẩm dân sự và phiên tòa sơ thẩm hành chính Thứ nhất: Phiên tòa hình sự sơ thẩm giải quyết xét xử những hành vi vi phạm pháp luật nguy hiểm đáng kể cho xã hội và được quy định là tội phạm; còn phiên tòa sơ thẩm dân sự được tiến hành trên cơ sở việc thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; Việc xét xử của Tòa án là một trong các biện pháp Nhà nước thực hiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Trong lĩnh vực hình sự, việc giải quyết vụ án hình sự là giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi phạm tội, cho nên phiên tòa sơ thẩm hình sự được tiến hành trên cơ sở các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Còn việc giải quyết vụ việc dân sự là giải quyết các quyền và nghĩa vụ dân sự thường chỉ liên quan đến cá nhân các đương sự, trừ một số trường hợp liên 9 quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước. Thứ hai: Phạm vi và diễn biến của phiên tòa hình sự sơ thẩm không phụ thuộc vào ý chí của người phạm tội, còn tại phiên tòa dân sự sơ thẩm phụ thuộc vào quyền tự quyết định và định đoạt của đương sự. Trong quá trình tố tụng hình sự phát sinh, thay đổi, chấm dứt dựa trên các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng nên phạm vi xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm dựa trên nội dung quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị can về tội danh và khung hình phạt.
Theo pháp luật của nhiều nước, tại phiên tòa hình sự, hai bên buộc tội và gỡ tội không thể thỏa thuận với nhau về tội danh và hình phạt để chấm dứt quá trình tố tụng. Trong án dân sự, hành chính, khi các đương sự đã thực hiện quyền khởi kiện, họ có quyền tự quyết định về việc tự tham gia tố tụng dân sự hay ủy quyền cho người khác, tự quyết định về phạm vi, nội dung, mức độ yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích của họ. Thứ ba: Tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, bị cáo không bắt buộc phải có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội; còn tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, các bên đương sự có quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu. Trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh có tội phạm xảy ra hay không thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình là không có tội.
Vì vậy, tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, nghĩa vụ chứng minh có tội phạm xảy ra hay không thuộc về Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố. Trong tố tụng dân sự, các đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung, là người trong cuộc, biết được sự việc, đưa ra yêu cầu và liên quan đến lợi ích của chính họ nên họ phải cung cấp cho Tòa án các chứng cứ và chứng minh làm rõ sự việc. 10 Về cơ bản, phiên tòa sơ thẩm dân sự có những đặc điểm giống so với phiên tòa sơ thẩm hành chính. Tuy nhiên, do bản chất của phiên tòa sơ thẩm hành chính là giải quyết tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức với các cơ quan nhà nước về các quyết định hành chính và hành vi hành chính của các cơ quan nhà nước nên tính chất bình đẳng giữa các đương sự trong phiên tòa sơ thẩm hành chính không được triệt để như trong phiên tòa sơ thẩm dân sự.
Thứ tư: Phiên tòa hình sự sơ thẩm được diễn ra tại Hội trường xét xử mang tính trang nghiêm, thể hiện uy quyền. Hiện nay, hệ thống Tòa án đã có quy định, trang bị Hội trường xét xử vụ án hình sự theo mô hình chung, thống nhất trong cả nước, còn phiên tòa xét xử dân sự, hành chính thì chưa. Ý nghĩa của hoạt động xét xử vụ án hình sự Hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động xét xử nói riêng đều có những ý nghĩa cơ bản sau: - Đảm bảo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Hoạt động xét xử có chất lượng tốt thể hiện quản lý nhà nước chặt chẽ.
Điều này tạo nên động lực cho các ngành, các lĩnh vực khác cùng phát triển. - Hoạt động xét xử quyết định tình trạng pháp lý của bị cáo. Trước khi Tòa án tuyên án thì bị cáo vẫn là một công dân bình thường mà không phải chịu sự ràng buộc nào của một hình phạt. - Hoạt động xét xử nhằm đảm bảo tính thực thi của pháp luật.
Những quy định của pháp luật có cụ thể, có đi vào đời sống thiết thực không thì phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của những người tiến hành xét xử. Mọi bản án được tuyên khi có hiệu lực pháp luật đều được bảm đảm thi hành. - Hoạt động xét xử nhằm góp phần tuyên truyền pháp luật. Ý nghĩa này giải thích tại sao ta thường tổ chức những phiên tòa lưu động trước đây.