Chương 1: TÍNH CỘNG ĐỒNG CỦA NÔNG DÂN VIỆT NAM KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ BIỂU HIỆN CƠ BẢN CỦA NÓ TRONG LỊCH SỬ 1. Quan niệm về tính cộng đồng và cơ sở hình thành tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng 1. Quan niệm về tính cộng đồng “Tính cộng đồng” là khái niệm được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như: tâm lý học, văn hóa học, xã hội học… quan tâm, nghiên cứu và có cách tiếp cận, theo các cấp độ khác nhau. Do đó, khái niệm này được hiểu rất rộng và không hoàn toàn thống nhất.
Ở góc độ tâm lý học, tính cộng đồng được nghiên cứu như là một đặc điểm tâm lý của con người. Theo tác giả Đỗ Long, “Tính cộng đồng là một đặc trưng tâm lý của nhóm, thể hiện năng lực phối hợp, kết hợp ở sự thống nhất các thành viên trong hành động và làm cho các mối quan hệ qua lại của các hoạt động diễn ra một cách nhịp nhàng nhất” [48, tr. Cùng cách tiếp cận này, tác giả Hofstede cho rằng: “Tính tập thể/ cộng đồng là một mô thức văn hóa theo đó người ta đặt một tập thể/ cộng đồng (ví dụ gia đình, bộ tộc, đất nước) vào trung tâm của trường tri giác, ưu tiên cho các mục đích của tập thể/ cộng đồng đó cao hơn mục đích của cá nhân, hành động theo các thái độ của họ (tập thể) và chú ý tới các nhu cầu của những người khác nhiều hơn là cái được và mất rút ra từ các quan hệ liên cá nhân” [Dẫn theo 29, tr. Cũng nghiên cứu tính cộng đồng với tư cách là một đặc điểm tâm lý của nhân cách, tác giả Triandis thì cho rằng: “tính tập thể/ cộng đồng là xu hướng của con người nhấn mạnh đến: Cách nhìn nhận, nhu cầu và mục đích của nhóm nội hơn là bản thân; chuẩn mực xã hội và bổn phận do nhóm nội xác định hơn là hành vi tạo sự vui sướng cho bản thân; niềm tin làm mình hòa chung với nhóm nội hơn là niềm tin phân biệt mình với nhóm nội; sự sẵn sàng hợp tác với thành viên nhóm nội; gắn bó về mặt cảm xúc với nhóm nội” [Dẫn theo 29, tr.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nghiên cứu về tính cộng đồng của người Nhật, tác giả Yamaguchi định nghĩa: “Tính cộng đồng là xu hướng coi trọng các mục đích của nhóm hơn các mục đích của cá nhân khi các mục đích này có mâu thuẫn” [Dẫn theo 29, tr. Tác giả Lê Văn Hảo khi nghiên cứu về tính cộng đồng đã cho rằng tính cộng đồng là xu hướng hành động của con người, xu hướng “Đặt người khác, tập thể/ cộng đồng vào vị trí ưu tiên trong nhận thức của cá nhân (cái tôi phụ thuộc lẫn nhau được ưu tiên). Ưu tiên, coi trọng các giá trị tập thể/ cộng đồng hơn là định hướng vào các giá trị cá nhân. Hành động, ứng xử vì tập thể/ cộng đồng hơn là vì cá nhân” [29, tr.
Ở góc độ văn hóa học, tính cộng đồng được xem xét như là một giá trị văn hóa, giá trị xã hội. Ở góc độ này, tác giả Nguyễn Hồng Phong cho rằng tâm lý tập thể - cộng đồng là một biểu hiện rất nổi bật của người Việt Nam truyền thống. Tuy không đưa ra định nghĩa về tính cộng đồng nhưng tác giả cho rằng tâm lý cộng đồng biểu hiện ở năm nội dung sau: “Tinh thần tương trợ, hào hiệp, tình nghĩa trung hậu, vị tha; tinh thần hàng hội; sự quan tâm nhiệt tình đến công việc công ích, ý thức dân chủ làng xã; tình yêu quê hương đất nước, ý thức cộng đồng dân tộc và tinh thần đại đoàn kết; truyền thống hợp tác tương trợ, tinh thần tập thể - cộng đồng trong cách mạng và kháng chiến chống giặc ngoại xâm” [63, tr. Cách tiếp cận này cho thấy, mục tiêu, lợi ích của cộng đồng, sự gắn kết, hợp tác tương trợ trong cộng đồng được coi trọng.
Theo cách tiếp cận này, tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Tính cộng đồng là một sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác - nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại” [76, tr. Những quan niệm trên về tính cộng đồng đã phản ánh tính chất phức tạp của khái niệm tính cộng đồng. Mỗi quan niệm đã chỉ ra được một hoặc một vài đặc điểm nào đó của tính cộng đồng. Một số đề cập đến tính cộng đồng với tư cách là một đặc điểm tâm lý của nhóm, số khác lại đề cập với tư cách là một đặc điểm tâm lý của nhân cách.
Điểm tương đồng trong quan niệm về tính cộng đồng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của các tác giả vừa nêu là ở chỗ, họ đều khẳng định tính cộng đồng là đặc điểm tâm lý dân tộc, là một giá trị văn hóa, là tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, điểm khác biệt trong các quan niệm trên ở chỗ, trong khi một số nhà khoa học nhấn mạnh tính cộng đồng ở góc độ tâm lý dân tộc, số khác lại nhấn mạnh khía cạnh là đặc điểm tâm lý của nhân cách. Trong nghiên cứu này, tính cộng đồng được tiếp cận chủ yếu với tư cách là một giá trị văn hóa với mục đích tìm hiểu tính cách dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu tính cộng đồng của nông dân Việt Nam là một công việc không dễ, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với việc hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam.
Tính cộng đồng tạo nên tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái là một trong những truyền thống quý báu nhất của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy đã góp phần tạo nên những kỳ tích trong lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Giá trị, truyền thống này có cội rễ sâu xa từ phương thức sinh tồn và tổ chức xã hội truyền thống. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ý thức cộng đồng và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái đã được hun đúc, trở thành một giá trị văn hóa chủ đạo, một truyền thống quý báu, một bệ đỡ quan trọng nhất của chủ nghĩa yêu nước.
Chính vì thế, nó là cơ sở, là nội lực phát triển của dân tộc Việt Nam. Để lý giải cơ sở hình thành tính cộng đồng của dân tộc Việt Nam nói chung và của nông dân Việt Nam nói riêng cần dựa vào những quan điểm mang tính khoa học cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Với quan niệm duy vật về lịch sử, C.Ăngghen đã giải quyết một cách khoa học vấn đề hình thành và phát triển tâm lý, ý thức xã hội. Các ông đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất, không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, mà phải tìm trong hiện thực vật chất.
Nhận thức về nguyên lý mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, C.Mác đã viết: “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Không phải ý thức con người quyết định tồn tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội quyết định ý thức của họ”, “phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” [50, tr. Lý giải cơ sở hình tính cộng đồng của người Việt Nam, các nhà văn hóa học ở Việt Nam như GS. Phan Ngọc, Hữu Ngọc, Trần Ngọc Thêm …có những ý kiến khác nhau, nhưng đều có xu hướng chung, khẳng định rằng: “do lịch sử thường xuyên phải chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta; do đặc điểm khí hậu nước ta luôn xảy ra thiên tai: lụt, bão, hạn hán, đòi hỏi nhân dân ở các cộng đồng từ quy mô nhỏ như làng, xã đến cộng đồng lớn hơn và cả dân tộc phải cùng nhau hợp tác, gắn bó để tạo nên sức mạnh chống các thế lực ngoại xâm, bảo vệ đất nước, chống thiên tai để duy trì cuộc sống, bảo vệ mùa màng, bảo vệ thành quả sản xuất, xây dựng đất nước” [49, tr.
Như vậy, cơ sở hình thành tính cách nói chung và tính cộng đồng của con người Việt Nam nói riêng chính là tồn tại xã hội của con người Việt Nam. Tồn tại xã hội ấy là những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam. Với những nhận thức trên chúng tôi quan niệm tính cộng đồng là sự liên kết, hòa đồng, đoàn kết giữa người và người, tạo nên những cộng đồng (hay tập thể nhất định), hoạt động với những mục đích và lợi ích chung. Tính cộng đồng vừa phản ánh đặc điểm nhân cách, cách thức tổ chức của con người trong xã hội, đồng thời phản ánh một đặc điểm trong quan hệ xã hội.
Tính cộng đồng, một mặt tạo nên sức mạnh để con người vừa có khả năng chống chọi với thiên nhiên, vừa chống chọi với chính con người. Mặt khác, chính tính cộng đồng đó lại tạo nên sự biệt lập nhất định giữa các cộng đồng người với nhau và, đôi khi, tính cộng đồng lại thủ tiêu chính vai trò của cá nhân trong xã hội. Cơ sở hình thành tính cộng đồng của nông dân Việt Nam khu vực đồng bằng sông Hồng Điều kiện tự nhiên Đồng bằng sông Hồng là một châu thổ được bồi đắp nên bởi hai con sông lớn của Việt Nam: sông Hồng và sông Thái Bình, bao gồm một số huyện của Phú 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thọ, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hòa Bình và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Đặc trưng cơ bản về địa hình của đồng bằng sông Hồng là đất tương đối thấp và cơ bản là bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Tuy nhiên, mỗi vùng cụ thể, địa hình cao thấp không đồng đều. Vùng địa hình cao vẫn có những nơi trũng thấp, vùng địa hình thấp vẫn có những dải cồn cát nổi lên cao. Khí hậu đồng bằng sông Hồng thuận lợi cho việc trồng lúa nước.