phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm: 2 chương và 9 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. NỘI DUNG CHƢƠNG 1. ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG VỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƢỠNG CỦA PHAN BỘI CHÂU 1.
Điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nƣớc tác động đến tƣ tƣởng về tôn giáo, tín ngƣỡng của Phan Bội Châu 1. Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Từ cuối thế kỷ XIX, phong trào vũ trang khởi nghĩa từ Nam chí Bắc sau khi Hàm Nghi xuất bôn và phát hịch Cần Vương đã lụi dần với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương sơn (1896), toàn bộ đất nước ta bị đặt dưới sự thống trị của thực dân pháp. Chúng bắt đầu thực hiện kế hoạch “khai thác thuộc địa lần thứ nhất”, kéo dài từ năm 1897 đến chiến tranh thế giới làn thứ nhất. Trước đó, xã hội Việt Nam từ tính chất thuần phong kiến tập quyền Á Đông vốn đình trệ lâu dài, vì trong lò ng nó không có mầm mống đủ mạnh cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, giờ đây đã bị cuốn hút vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản Pháp.
Xã hội Việt Nam trở thành một xã hội thuộc địa - nửa phong kiến. Về chính trị Nhằm khai thác thuộc địa với quy mô ngày càng lớn, thực dân pháp đã thiết lập và kiện toàn cơ cấu mọi mặt của bộ máy thống trị thực dân từ Trung ương đến địa phương. Nhà nước “bảo hộ” thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước ta thành một “sân sau” của chính quốc, thị trường tiêu thụ hàng hóa và bóc lột nhân công để thu về lợi nhuận cao nhất cho tư bản Pháp, đồng thời vẫn kìm hãm xã hội Việt Nam trong tình trạng trì trệ của một nước công nghiệp lạc hậu để dễ bề thống trị. Thực dân Pháp nắm quyền điều khiển bộ máy thống trị và câu kết với giai cấp phong kiến phản động đầu hàng làm tay sai cho chúng.
Cả bộ máy quan lại Nam triều từ trên xuống đến tỉnh, huyện, xã cùng với bè lũ thực dân xâm lược ra sức đàn áp bóc lột nhân dân ta. Đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Để bóc lột nhân dân lao động, chủ yếu là nông 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân nước ta, đế quốc Pháp không phá bỏ chế độ phong kiến, để cho chủ nghĩa tư bản phát triển tự do, trái lại chúng rất cần duy trì chế độ phong kiến đó. Chúng nuôi dưỡng chế độ phong kiến chính là để bóc lột theo lối tư bản chủ nghĩa nặng nề hơn, mạnh và nhiều hơn”[16, tr. Đứng đầu cai trị toàn Đông Dương có viên thực dân Pháp giữ chức toàn quyền, bên cạnh viên toàn quyền về phía Việt Nam có triều đình Huế làm bù nhìn.
Đứng đầu các xứ, kỳ có các tên thực dân Pháp giữ chức thống đốc, thống sứ hoặc khâm sứ. Đứng đầu các tỉnh có các tên công sứ người Pháp. Bên cạnh có các tên tuần phủ hoặc tổng đốc người Việt… Song song với việc củ ng cố bộ máy hành chính, thực dân Pháp còn tăng cường lực lượng quân đội và nắm hết quyền chỉ huy tất cả quân đội Pháp và Việt. Chúng còn ra sức củ ng cố các cơ quan tòa án, cảnh sát, mật thám, nhà tù…ở các địa phương để sẵn sàng đàn áp phong trào cách mạng và những người có hành động chống đối.
Thủ đoạn thâm độc nhất của chính quyền thuộc địa là chính sách “chia để trị” “dùng người Việt trị người Việt” [53, tr. Chúng thực hiện 3 chế độ chính trị cho 3 kỳ, gây chia rẽ người Nam với người Bắc, người Trung, gây chia rẽ thù hằn giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, giữa các tôn giáo với nhau. Ngoài ra, về mặt xã hội, chúng còn duy trì và phát triển những phong tục hủ bại thời phong kiến, khuyến khích cờ bạc, uống rượu, hút thuốc phiện, phát triển mê tín dị đoan trong nhân dân, khuyến khích việc thành lập và tuyên truyền các tôn giáo để âm mưu ru ngủ nhân dân ta. Tất nhiên, đối với những người đi ngược lại và đả phá sự hủ bại thối nát, mê tín, ngu dân ấy thì đều bị chúng ngăn cấm và trừng trị, như các phong trào của Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, cuộc vận động Duy Tân 1904 - 1908 ở Trung kỳ, phong trào Đông Du 1905 - 1907.
Trước tình hình đó, đã làm cho mâu thuẫn giữa toàn bộ dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược càng thêm gay gắt. Để giải quyết mâu thuẫn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó, đòi hỏi phải đoàn kết, hiệp lực mọi lực lươ ̣ng yêu nước, tiến bộ đứng dậy lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Chính yêu cầu này đã ảnh hưởng và được phản ánh đậm nét trong tiến trình phát triển tư tưởng về tôn giáo của Phan Bội Châu trong quá trình đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Về kinh tế Trước khi Pháp xâm lược, kinh tế nước ta chỉ là một nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, tự cung, tự cấp.
Thủ công nghiệp tuy có nhiều nghề nhưng quy mô nhỏ bé, phân tán khắp nơi, có nghề có kỹ thuật khá tinh xảo, nhưng do kinh tế hàng hóa chưa phát triển, nên còn ở mức phường bạn, chưa có công xưởng và chỉ bó gọn trong từng địa phương nhỏ hẹp. Thương nghiệp chỉ là buôn bán nhỏ, làm nhiệm vụ trao đổi từng vùng, do giao thông không thuận lợi và thuế khóa nặng nề nên kém phát triển. Việc buôn bán với nước ngoài bị chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình ngăn chặn. Thực dân Pháp đánh chiếm nước ta, giành lấy quyền thống trị về chính trị, sử dụng nó vào việc phát triển kinh tế theo lợi ích của chúng để thu lợi nhuận cao nhất và bù vào chỗ thua thiệt và chậm chạp vì phải sa lầy vào chiến tranh trước đây.
Chính sách kinh tế của Pháp ở Việt Nam có thể nói gọn lại là: bán hàng hóa, khai thác nguyên liệu bằng cách bóc lột nhân công rẻ mạt và cho vay lãi “nền sản xuất chỉ được thu gọn trong việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà nước Pháp không có. Công nghiệp nếu cần được khuyến khích thì cũng chỉ trong giới hạn nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc, không làm hại đến nền công nghiệp chính quốc”[39, tr. Trên cơ sở chính sách đó, thực dân Pháp đã thực hiện việc độc chiếm thị trường, độc quyền ngoại thương, mua rẻ hàng nông nghiệp và bán đắt hàng công nghiệp. Chúng cũng độc quyền thu mua, xuất khẩu nhiều mặt hàng quan trọng khác từ than đá, quặng mỏ, nông - lâm - hải sản…đến cả các sản phẩm thủ công.
Đồng thời, thực dân Pháp sử dụng bộ máy thống trị đề ra những luật lệ, tô thuế hết sức nặng nề, nhằm bần cùng hóa nhân dân lao động, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo ra nguồn công nhân rẻ mạt, thừa thãi, cung cấp cho quá trình khai thác thuộc địa, dựa vào sức người, sức của sẵn có. Như vậy, thực dân Pháp một mặt, duy trì phương thức sản xuất phong kiến cũ lạc hậu, mặt khác, từng bước du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tại thuộc địa. Vì thế, nền tảng và cơ cấu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ có nhiều biến chuyển mới, có cả hai phương thức sản xuất mới cùng song song tồn tại: phương thức sản xuất phong kiến và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. “Dưới sự tác động của hai phương thức sản xuất này đã làm cho nền tảng, cơ cấu kinh tế của xã hội Việt Nam biến đổi theo chiều hướng đi dần vào quỹ đạo mới, tiến bộ hơn - qũy đạo tư bản chủ nghĩa, nhưng là một thứ tư bản chủ nghĩa thuộc địa, phụ thuộc hoàn toàn vào chính quốc”[29, tr.
Tuy vậy, do có sự mở rộng giao lưu hàng hóa và do nhu cầu của bè lũ thực dân muốn khai thác tài nguyên mà buộc chúng mở mang giao thông, xây dựng đường sá, cầu cống, các thương điếm, công trường, xí nghiệp… ra đời. Sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng tư tưởng bên ngoài du nhập vào. Mặt khác, nó cũng làm phá sản chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn, làm cho Việt Nam tiếp xúc được với thế giới, nhất là với Châu Âu tư bản chủ nghĩa, mặc dù thực dân Pháp đã chặn một hàng rào thuế quan khá chặt chẽ và bắt buộc Việt Nam chỉ được sống với thân phận phụ thuộc, làm cái đuôi của tư bản Pháp và chỉ được phép có quan hệ với riêng nước Pháp mà thôi” [53, tr. Chính những điều kiện kinh tế này đã có tác động lớn làm cho tính chất cổ truyền của xã hội Việt Nam bị biến dạng và bị phá vỡ dần về mọi mặt cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Chính điều này, đã có tác động đến toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam nói chung và tư tưởng Phan Bội Châu nói riêng, mở rộng phạm vi nhận thức về tôn giáo của ông. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Về văn hóa - giáo dục - tôn giáo Để đào tạo những người giúp việc trực tiếp cho các tổ chức chính trị và kinh tế của chúng, thực dân Pháp phải tổ chức nền giáo dục. Tùy theo yêu cầu chính trị của từng giai đoạn mà chúng đưa ra những chủ trương cụ thể.
Nhưng quán xuyến tất cả thời thuộc Pháp là xây dựng một nền giáo dục thực dân - nửa phong kiến với mục đích nhằm nô dịch và đồng hóa nhân dân Việt Nam. Phương châm của chúng là một mặt ra sức duy trì để lợi dụng nền Nho học với chế độ khoa cử lỗi thời, mặt khác chỉ mở tại các đô thị lớn một số ít trường tiểu học Pháp - Việt, trường thông ngôn trong phạm vi tối cần thiết mà thôi.Đume đọc trước Hội đồng tối cao Đông Dương có đoạn: “Những nguyên tắc đã làm cho trong xã hội người bản xứ, gia đình được vững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ đều được rút ra từ các sách Hán học ngay những nguyên tắc nền tảng của luân lý Nho giáo, họ khắc sâu vào lòng dạ những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ trong cả cuộc đời. Chính các trường làng đã đem lại cho họ nền học vấn đó” [39, tr.