mở đầu có ý nghĩa nền tảng, chi phối toàn bộ tiến trình tập thể hóa nông nghiệp nước ta sau này. Thực tiễn cho thấy sự hình thành, phát triển của phong trào hợp tác hóa - tập thể hóa chủ yếu xuất phát từ những tiền đề chính trị chứ chưa phải từ những tiền đề kinh tế. Phong trào phát triển nhanh chóng và đạt được thành tựu lớn, đến năm 1965 phong trào hợp tác hóa đã thu hút 90,3% số hộ nông dân miền Bắc, gần 80% số hộ nông dân đã đi theo con đường làm ăn tập thể ở miền núi. Tuy nhiên, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp vẫn chưa đạt được mục tiêu xóa bỏ tận gốc chế độ bóc lột, chặn đứng con đường phát triển tự phát của CNTB ở nông thôn, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, chưa xây dựng được miền tin vững chắc đối với nông dân.
Phong trào hợp tác hóa còn tồn tại nhiều hạn chế, xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Trong những năm 1968-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta diễn ra quyết liệt trên cả hai miền đất nước: Miền Nam đấu tranh chống lại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Miền Bắc chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, tiếp tục xây dựng CNXH, làm nghĩa vụ hậu phương. Trước cục diện mới và yêu cầu mới của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, miền Bắc phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh đồng thời khắc phục những mặt yếu kém trong nền kinh tế, sớm chuyển biến tình hình làm đà cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trước mắt.
Từ năm 1964, đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng lớn không quân, hải quân đánh phá miền Bắc nhằm tiêu diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng của miền Bắc, chặn đứng sự chi viện từ hậu phương lớn vào tiền tuyến lớn miền Nam. Để đối phó và đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, Hội nghị Ban Chấp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành Trung ương 11,12 (năm 1965) đã quyết định chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức, kinh tế, quốc phòng, tiếp tục xây dựng nhà nước XHCN khi cả nước có chiến tranh và Miền Bắc phải vừa xây dựng kinh tế vừa phòng thủ chiến tranh, luôn giữ vai trò là hậu phương lớn đối với miền Nam. Để thực hiện nhiệm vụ ấy, Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật vòng hai. Trong bối cảnh chế độ ba khoán đang được hình thành ở nhiều địa phương thì tháng 9-1966, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết 68-NQ/TU “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong HTX hiện nay” chủ trương mở rộng “khoán hộ” trên phạm vi toàn tỉnh.
“Khoán hộ” của Vĩnh Phúc là tín hiệu dự báo môt hướng đi mới của nông thôn - nông nghiệp nhưng “khoán hộ” ở Vĩnh Phúc lúc đó chưa được chấp nhận vì nhiều lý do chủ quan và khách quan. Tháng 12-1968, Ban Bí thư ra Thông tri “Chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý ruộng đất của HTX sản xuất nông nghiệp ở các địa phương” nhắc nhở các địa phương quán triệt và thực hiện nghiêm túc nội dung, nguyên tắc của chế độ ba khoán trong các HTX, đồng thời, phân tích, phê phán sai lầm của hình thức “khoán hộ”. Ngay sau khi đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, Đảng và Nhà nước đã tập trung khắc phục tình trạng mất dân chủ trong các HTX nông nghiệp. Tháng 4-1969, Điều lệ HTX bậc cao được ban hành gồm 10 chương, 33 điều nêu rõ chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc dân chủ, nội dung quản lý và vấn đề phân phối thu nhập của HTX bậc cao.
Ngày 15-3-1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết “Phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của xã viên ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp toàn diện, vững chắc” nhận định: Việc xây dựng chế độ dân chủ và quyền làm chủ tập thể của quần chúng chưa tiến kịp với chế độ chính trị và quan hệ sản xuất mới, với quy mô HTX ngày càng mở rộng, sản xuất ngày càng phát triển, quản lý kinh doanh ngày càng phức tạp.120] 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để giải quyết mâu thuẫn này, Bộ Chính trị nhấn mạnh phải tôn trọng, bảo đảm quyền dân chủ và làm chủ tập thể của xã viên trên các mặt kinh tế - chính trị - xã hội, sản xuất - phân phối - quản lý. Bước vào những năm 70, trước yêu cầu ngày càng lớn của sự nghiệp xây dựng CNXH và chống Mỹ cứu nước, Đảng đã đề ra những chủ trương quan trọng nhằm tạo một bước chuyển biến căn bản trong đời sống kinh tế - xã hội ở hậu phương miền Bắc. Đầu năm 1971, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 19 (khóa III) đề ra chủ trương tổ chức lại sản xuất đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn XHCN đã khẳng định: Ở nước ta vốn chưa trải qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa, đấu tranh giữa hai con đường chủ yếu là đấu tranh giữa hai khả năng phát triển của sản xuất nhỏ: sẽ đi lên CNTB hay sẽ đi lên CNXH? Vì vậy, trên mặt trận kinh tế, vấn đề cơ bản nhất đối với chúng ta là đấu tranh đưa sản xuất nhỏ cá thể lên sản xuất lớn XHCN.109] Tháng 1-1974, Trung ương Đảng họp Hội nghị 22 khẳng định và cụ thể hóa một bước chủ trương tổ chức lại sản xuất đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn XHCN. Hội nghị nhấn mạnh sự cần thiết phải chấn chỉnh và tăng cường hoạt động của HTX, có kế hoạch chuẩn bị mở rộng quy mô HTX một cách hợp lý, có lãnh đạo chặt chẽ.
Cuối năm 1974, Ban Bí thư Trung ương ra chỉ thị 208-CT/TW nêu rõ những nội dung cơ bản của việc tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý nông nghiệp bao gồm vấn đề xây dựng cấp huyện là cấp thực hiện tiến hành ba cuộc cách mạng ở nông thôn, chủ trương quy hoạch lại HTX, hướng dẫn tiến hành cải tiến quản lý HTX. Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên cả nước thống nhất đi lên CNXH. Đồng thời với việc tích cực thống nhất đất nước về mặt nhà nước, Đảng và nhân dân đặc biệt chú trọng xây dựng thống nhất về cơ cấu kinh tế - xã hội. Miền Bắc vẫn tiếp tục mở rộng cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý nông nghiệp ở các HTX, miền Nam từng bước triển khai công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 24 (29/9/1975) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam khẳng định: Với thắng lợi rực rỡ mùa Xuân năm 1975, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới: Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, từ một nửa nước bị chủ nghĩa thực dân mới chia cắt và thống trị sang cả nước độc lập và thống 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất, từ hai nhiệm vụ chiến lược, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN, sang một nhiệm vụ chiến lược là làm cách mạng XHCN và xây dựng CNXH trong cả nước.372] Nghị quyết cũng đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng đất nước trong giai đoạn mới là: Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng CNXH và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo XHCN và xây dựng CNXH. Cải tạo XHCN và xây dựng CNXH là hai mặt khăng khít của cuộc cách mạng XHCN.374] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ 14- 20-12-1976 đã khẳng định: ngày nay, Tổ quốc ta đã hoàn toàn độc lập thì dân tộc và CNXH là một. Đại hội hoạch định đường lối cách mạng XHCN trong giai đoạn mới là quá trình thực hiện ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật và cách mạng tư tưởng và văn hoá trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt.
Quá trình thực hiện ba cuộc cách mạng ấy cũng là quá trình hình thành từng bước chế độ làm chủ tập thể XHCN, nền sản xuất lớn XHCN, nền văn hoá mới và con người mới XHCN. Trong những năm 1968-1976, nhìn về hình thức phong trào hợp tác hóa - tập thể hóa vẫn có những bước tăng trưởng: tỷ lệ nông dân vào HTX ngày càng cao, quy mô HTX ngày càng lớn, cơ sở vật chất kỹ thuật của HTX tiếp tục được tăng cường. Tuy nhiên, nếu xét về hiệu quả kinh tế, đi sâu vào thực chất quản lý thì thấy một sự thật trái ngược là HTX nông nghiệp bộc lộ ngày càng rõ nhiều mặt hạn chế yếu kém. Mặc dù cơ sở vật chất - kỹ thuật tăng nhưng HTX chưa khai thác hết hiệu quả, diện tích gieo trồng giảm sút, chi phí sản xuất tăng vọt, sản lượng lương thực không tăng, tham ô, lãng phí, hao phí tiền vốn, vật tư tăng lên nghiêm trọng.
Tuy Đảng đã chủ động đề ra các chủ trương, biện pháp để khắc phục nhưng thực tế quá trình mở rộng quy mô HTX, tổ chức lại sản xuất, thí điểm cơ giới hóa, xây dựng địa bàn cấp huyện, đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn XHCN tỏ ra không phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử miền Bắc. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình xây dựng, phát triển HTX nông nghiệp ở Vĩnh Phú trước năm 1968 Trước năm 1968, tỉnh Vĩnh Phú bao gồm hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Quán triệt chủ chương của Đảng, trong những năm 1958-1967, phong trào hợp tác hóa - tập thể hóa đã diễn ra nhanh chóng trên địa bàn hai tỉnh.
Đối với nông nghiệp, ngay từ năm 1956, Trung ương đã chọn Vĩnh Phúc, Phú Thọ làm nơi xây dựng HTX nông nghiệp thí điểm để rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho những bước tiếp theo. Trước khi bước vào thực hiện Kế hoạch 3 năm (1958-1960) cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú thọ đã xây dựng thí điểm được 18 HTX nông nghiệp bậc thấp với quy mô xóm, công tác xây dựng tổ đổi công trong nông thôn được đẩy mạnh. Tính đến đầu năm 1958, tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng được 11.192 tổ đổi công gồm 72.