Luận văn thạc sĩ ussh sự chỉ đạo đổi mới quản lí hợp tác xã nông nghiệp của đảng bộ tỉnh vĩnh phú từ năm 1968 đến năm 1986

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh sự chỉ đạo đổi mới quản lí hợp tác xã nông nghiệp của đảng bộ tỉnh vĩnh phú từ năm 1968 đến, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

154
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚ CHỈ ĐẠO QUẢN LÝ HTX NÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM 1968-1976

1.1. Chủ trương của Đảng về phát triển HTX nông nghiệp và tình hình xây dựng HTX nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú trước năm 1968

1.2. Chủ trương của Đảng về xây dựng HTX nông nghiệp

1.3. Tình hình xây dựng, phát triển HTX nông nghiệp ở Vĩnh Phú trước năm 1968

1.4. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú chỉ đạo quản lý HTX nông nghiệp

1.5. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý ruộng đất trong HTX nông nghiệp (1968-1970)

1.6. Quá trình tiếp tục củng cố, đưa HTX nông nghiệp tiến lên theo con đường XHCN (1971-1976)

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚ CHỈ ĐẠO “KHOÁN” TRONG HTX NÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM 1977-1986

2.1. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú về phát triển HTX nông nghiệp

2.2. Chủ trương của Đảng về phát triển HTX nông nghiệp

2.3. Chủ trương khoán trong HTX nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú (1977-1986)

2.4. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú thực hiện “khoán” trong HTX nông nghiệp

2.5. Quá trình thực hiện “khoán” trong HTX nông nghiệp (1977-1979)

2.6. Quá trình thực hiện khoán sản phẩm trong HTX nông nghiệp (1980-1986)

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHỦ YẾU

3.1. Nhận xét chung

3.2. Những kinh nghiệm chủ yếu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú 1968 1986

Đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp tại Vĩnh Phú từ năm 1968 đến 1986 là một quá trình quan trọng trong lịch sử phát triển nông nghiệp Việt Nam. Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của các hợp tác xã nông nghiệp, từ mô hình quản lý tập trung sang những phương thức linh hoạt hơn, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và đời sống của nông dân. Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đã tạo ra những bước đột phá trong việc áp dụng các chính sách đổi mới, góp phần vào sự phát triển kinh tế nông thôn.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú

Hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú được hình thành trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đang trong quá trình hợp tác hóa. Từ những năm 1960, Đảng đã có những chủ trương khuyến khích nông dân tham gia vào các tổ chức hợp tác xã, nhằm tăng cường sản xuất và cải thiện đời sống. Sự phát triển này không chỉ phản ánh nhu cầu thực tiễn mà còn là một phần trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng.

1.2. Vai trò của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú trong đổi mới quản lý

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đã đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo và thực hiện các chính sách đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Qua các nghị quyết và chỉ thị, Đảng bộ đã định hướng rõ ràng về mục tiêu và phương pháp thực hiện, từ đó tạo ra những thay đổi tích cực trong quản lý và sản xuất nông nghiệp.

II. Những thách thức trong quản lý hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú

Trong quá trình đổi mới, hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú đã phải đối mặt với nhiều thách thức. Những khó khăn này không chỉ đến từ cơ chế quản lý cũ mà còn từ sự thay đổi trong tư duy sản xuất của nông dân. Việc chuyển từ mô hình quản lý tập trung sang mô hình tự chủ đòi hỏi sự thay đổi lớn trong cách thức hoạt động của các hợp tác xã.

2.1. Khó khăn trong việc áp dụng chính sách khoán

Chính sách khoán được áp dụng nhằm tăng cường tính tự chủ cho các hợp tác xã, nhưng thực tế cho thấy nhiều hợp tác xã gặp khó khăn trong việc thực hiện. Sự thiếu hụt về kiến thức và kinh nghiệm quản lý đã dẫn đến những sai sót trong quá trình áp dụng chính sách này.

2.2. Tư duy sản xuất của nông dân và sự chuyển đổi

Tư duy sản xuất của nông dân Vĩnh Phú trong giai đoạn này vẫn còn bị ảnh hưởng bởi các phương thức sản xuất cũ. Việc thay đổi tư duy này là một thách thức lớn, đòi hỏi sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng và sự tham gia tích cực của nông dân.

III. Phương pháp đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú

Để vượt qua những thách thức, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đã áp dụng nhiều phương pháp đổi mới trong quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả sản xuất mà còn nâng cao đời sống của nông dân.

3.1. Áp dụng chính sách khoán sản phẩm

Chính sách khoán sản phẩm đã được áp dụng rộng rãi tại Vĩnh Phú, giúp nông dân có quyền tự quyết trong sản xuất. Điều này không chỉ tạo động lực cho nông dân mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

3.2. Tăng cường đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật

Để đảm bảo việc áp dụng các chính sách đổi mới thành công, Đảng bộ tỉnh đã chú trọng đến việc đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân. Các chương trình đào tạo đã giúp nông dân nâng cao kiến thức và kỹ năng trong sản xuất.

IV. Kết quả đạt được từ đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp

Quá trình đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp tại Vĩnh Phú đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Sự chuyển mình này không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn cải thiện đời sống của nông dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế nông thôn.

4.1. Tăng trưởng sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp tại Vĩnh Phú đã có sự tăng trưởng đáng kể sau khi áp dụng các chính sách đổi mới. Năng suất cây trồng và vật nuôi đã được cải thiện rõ rệt, giúp nông dân có thu nhập ổn định hơn.

4.2. Cải thiện đời sống nông dân

Đời sống của nông dân Vĩnh Phú đã được cải thiện nhờ vào sự tăng trưởng trong sản xuất. Nhiều hộ gia đình đã có khả năng đầu tư vào giáo dục và y tế, nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú

Đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú từ năm 1968 đến 1986 đã tạo ra những bước tiến quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển bền vững, cần có những chính sách phù hợp và sự hỗ trợ liên tục từ các cấp chính quyền.

5.1. Bài học kinh nghiệm từ quá trình đổi mới

Quá trình đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Sự linh hoạt trong quản lý và sự tham gia tích cực của nông dân là những yếu tố quan trọng giúp thành công.

5.2. Triển vọng phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong tương lai

Triển vọng phát triển hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú trong tương lai phụ thuộc vào việc tiếp tục đổi mới và áp dụng các chính sách phù hợp. Sự hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức xã hội sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh sự chỉ đạo đổi mới quản lí hợp tác xã nông nghiệp của đảng bộ tỉnh vĩnh phú từ năm 1968 đến năm 1986

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu có ý nghĩa nền tảng, chi phối toàn bộ tiến trình tập thể hóa nông nghiệp nước ta sau này. Thực tiễn cho thấy sự hình thành, phát triển của phong trào hợp tác hóa - tập thể hóa chủ yếu xuất phát từ những tiền đề chính trị chứ chưa phải từ những tiền đề kinh tế. Phong trào phát triển nhanh chóng và đạt được thành tựu lớn, đến năm 1965 phong trào hợp tác hóa đã thu hút 90,3% số hộ nông dân miền Bắc, gần 80% số hộ nông dân đã đi theo con đường làm ăn tập thể ở miền núi. Tuy nhiên, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp vẫn chưa đạt được mục tiêu xóa bỏ tận gốc chế độ bóc lột, chặn đứng con đường phát triển tự phát của CNTB ở nông thôn, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, chưa xây dựng được miền tin vững chắc đối với nông dân.

Phong trào hợp tác hóa còn tồn tại nhiều hạn chế, xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Trong những năm 1968-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta diễn ra quyết liệt trên cả hai miền đất nước: Miền Nam đấu tranh chống lại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Miền Bắc chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, tiếp tục xây dựng CNXH, làm nghĩa vụ hậu phương. Trước cục diện mới và yêu cầu mới của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, miền Bắc phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh đồng thời khắc phục những mặt yếu kém trong nền kinh tế, sớm chuyển biến tình hình làm đà cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trước mắt.

Từ năm 1964, đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng lớn không quân, hải quân đánh phá miền Bắc nhằm tiêu diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng của miền Bắc, chặn đứng sự chi viện từ hậu phương lớn vào tiền tuyến lớn miền Nam. Để đối phó và đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, Hội nghị Ban Chấp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành Trung ương 11,12 (năm 1965) đã quyết định chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức, kinh tế, quốc phòng, tiếp tục xây dựng nhà nước XHCN khi cả nước có chiến tranh và Miền Bắc phải vừa xây dựng kinh tế vừa phòng thủ chiến tranh, luôn giữ vai trò là hậu phương lớn đối với miền Nam. Để thực hiện nhiệm vụ ấy, Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật vòng hai. Trong bối cảnh chế độ ba khoán đang được hình thành ở nhiều địa phương thì tháng 9-1966, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết 68-NQ/TU “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong HTX hiện nay” chủ trương mở rộng “khoán hộ” trên phạm vi toàn tỉnh.

“Khoán hộ” của Vĩnh Phúc là tín hiệu dự báo môt hướng đi mới của nông thôn - nông nghiệp nhưng “khoán hộ” ở Vĩnh Phúc lúc đó chưa được chấp nhận vì nhiều lý do chủ quan và khách quan. Tháng 12-1968, Ban Bí thư ra Thông tri “Chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý ruộng đất của HTX sản xuất nông nghiệp ở các địa phương” nhắc nhở các địa phương quán triệt và thực hiện nghiêm túc nội dung, nguyên tắc của chế độ ba khoán trong các HTX, đồng thời, phân tích, phê phán sai lầm của hình thức “khoán hộ”. Ngay sau khi đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, Đảng và Nhà nước đã tập trung khắc phục tình trạng mất dân chủ trong các HTX nông nghiệp. Tháng 4-1969, Điều lệ HTX bậc cao được ban hành gồm 10 chương, 33 điều nêu rõ chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc dân chủ, nội dung quản lý và vấn đề phân phối thu nhập của HTX bậc cao.

Ngày 15-3-1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết “Phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của xã viên ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp toàn diện, vững chắc” nhận định: Việc xây dựng chế độ dân chủ và quyền làm chủ tập thể của quần chúng chưa tiến kịp với chế độ chính trị và quan hệ sản xuất mới, với quy mô HTX ngày càng mở rộng, sản xuất ngày càng phát triển, quản lý kinh doanh ngày càng phức tạp.120] 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để giải quyết mâu thuẫn này, Bộ Chính trị nhấn mạnh phải tôn trọng, bảo đảm quyền dân chủ và làm chủ tập thể của xã viên trên các mặt kinh tế - chính trị - xã hội, sản xuất - phân phối - quản lý. Bước vào những năm 70, trước yêu cầu ngày càng lớn của sự nghiệp xây dựng CNXH và chống Mỹ cứu nước, Đảng đã đề ra những chủ trương quan trọng nhằm tạo một bước chuyển biến căn bản trong đời sống kinh tế - xã hội ở hậu phương miền Bắc. Đầu năm 1971, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 19 (khóa III) đề ra chủ trương tổ chức lại sản xuất đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn XHCN đã khẳng định: Ở nước ta vốn chưa trải qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa, đấu tranh giữa hai con đường chủ yếu là đấu tranh giữa hai khả năng phát triển của sản xuất nhỏ: sẽ đi lên CNTB hay sẽ đi lên CNXH? Vì vậy, trên mặt trận kinh tế, vấn đề cơ bản nhất đối với chúng ta là đấu tranh đưa sản xuất nhỏ cá thể lên sản xuất lớn XHCN.109] Tháng 1-1974, Trung ương Đảng họp Hội nghị 22 khẳng định và cụ thể hóa một bước chủ trương tổ chức lại sản xuất đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn XHCN. Hội nghị nhấn mạnh sự cần thiết phải chấn chỉnh và tăng cường hoạt động của HTX, có kế hoạch chuẩn bị mở rộng quy mô HTX một cách hợp lý, có lãnh đạo chặt chẽ.

Cuối năm 1974, Ban Bí thư Trung ương ra chỉ thị 208-CT/TW nêu rõ những nội dung cơ bản của việc tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý nông nghiệp bao gồm vấn đề xây dựng cấp huyện là cấp thực hiện tiến hành ba cuộc cách mạng ở nông thôn, chủ trương quy hoạch lại HTX, hướng dẫn tiến hành cải tiến quản lý HTX. Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên cả nước thống nhất đi lên CNXH. Đồng thời với việc tích cực thống nhất đất nước về mặt nhà nước, Đảng và nhân dân đặc biệt chú trọng xây dựng thống nhất về cơ cấu kinh tế - xã hội. Miền Bắc vẫn tiếp tục mở rộng cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý nông nghiệp ở các HTX, miền Nam từng bước triển khai công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 24 (29/9/1975) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam khẳng định: Với thắng lợi rực rỡ mùa Xuân năm 1975, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới: Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, từ một nửa nước bị chủ nghĩa thực dân mới chia cắt và thống trị sang cả nước độc lập và thống 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất, từ hai nhiệm vụ chiến lược, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN, sang một nhiệm vụ chiến lược là làm cách mạng XHCN và xây dựng CNXH trong cả nước.372] Nghị quyết cũng đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng đất nước trong giai đoạn mới là: Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng CNXH và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo XHCN và xây dựng CNXH. Cải tạo XHCN và xây dựng CNXH là hai mặt khăng khít của cuộc cách mạng XHCN.374] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ 14- 20-12-1976 đã khẳng định: ngày nay, Tổ quốc ta đã hoàn toàn độc lập thì dân tộc và CNXH là một. Đại hội hoạch định đường lối cách mạng XHCN trong giai đoạn mới là quá trình thực hiện ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật và cách mạng tư tưởng và văn hoá trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt.

Quá trình thực hiện ba cuộc cách mạng ấy cũng là quá trình hình thành từng bước chế độ làm chủ tập thể XHCN, nền sản xuất lớn XHCN, nền văn hoá mới và con người mới XHCN. Trong những năm 1968-1976, nhìn về hình thức phong trào hợp tác hóa - tập thể hóa vẫn có những bước tăng trưởng: tỷ lệ nông dân vào HTX ngày càng cao, quy mô HTX ngày càng lớn, cơ sở vật chất kỹ thuật của HTX tiếp tục được tăng cường. Tuy nhiên, nếu xét về hiệu quả kinh tế, đi sâu vào thực chất quản lý thì thấy một sự thật trái ngược là HTX nông nghiệp bộc lộ ngày càng rõ nhiều mặt hạn chế yếu kém. Mặc dù cơ sở vật chất - kỹ thuật tăng nhưng HTX chưa khai thác hết hiệu quả, diện tích gieo trồng giảm sút, chi phí sản xuất tăng vọt, sản lượng lương thực không tăng, tham ô, lãng phí, hao phí tiền vốn, vật tư tăng lên nghiêm trọng.

Tuy Đảng đã chủ động đề ra các chủ trương, biện pháp để khắc phục nhưng thực tế quá trình mở rộng quy mô HTX, tổ chức lại sản xuất, thí điểm cơ giới hóa, xây dựng địa bàn cấp huyện, đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn XHCN tỏ ra không phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử miền Bắc. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình xây dựng, phát triển HTX nông nghiệp ở Vĩnh Phú trước năm 1968 Trước năm 1968, tỉnh Vĩnh Phú bao gồm hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Quán triệt chủ chương của Đảng, trong những năm 1958-1967, phong trào hợp tác hóa - tập thể hóa đã diễn ra nhanh chóng trên địa bàn hai tỉnh.

Đối với nông nghiệp, ngay từ năm 1956, Trung ương đã chọn Vĩnh Phúc, Phú Thọ làm nơi xây dựng HTX nông nghiệp thí điểm để rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho những bước tiếp theo. Trước khi bước vào thực hiện Kế hoạch 3 năm (1958-1960) cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú thọ đã xây dựng thí điểm được 18 HTX nông nghiệp bậc thấp với quy mô xóm, công tác xây dựng tổ đổi công trong nông thôn được đẩy mạnh. Tính đến đầu năm 1958, tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng được 11.192 tổ đổi công gồm 72.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú (1968-1986)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình cải cách và phát triển quản lý hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phú trong giai đoạn lịch sử quan trọng này. Tài liệu nêu bật những thách thức và cơ hội mà các hợp tác xã đã phải đối mặt, đồng thời phân tích các chính sách và biện pháp quản lý đã được áp dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức tổ chức và quản lý hợp tác xã, từ đó rút ra bài học cho các mô hình phát triển nông nghiệp hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2008, nơi cung cấp cái nhìn về sự phát triển nông nghiệp trong một giai đoạn khác. Ngoài ra, tài liệu Luận văn ths qlc quản lý nhà nước đối với htx trong nông nghiệp trên địa bàn huyện u minh thượng tỉnh kiên giang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của quản lý nhà nước trong hợp tác xã nông nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thực thi chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp ở việt nam sẽ cung cấp thông tin về chính sách đào tạo, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản lý hợp tác xã. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực hợp tác xã nông nghiệp tại Việt Nam.