phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp Chương 3: Giải pháp tăng cường thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về hợp tác xã, hợp tác xã nông nghiệp 1. Khái niệm, phân loại hợp tác xã 1.
Khái niệm hợp tác xã Năm 1942, Ivan Emelianoff, một nhà nghiên cứu về hợp tác xã đã nhận xét rằng “sự đa dạng của hợp tác xã là muôn màu muôn vẻ và sự biến đổi của hợp tác xã thật sự là không thể đếm xuể”. Và như thế không thể có một định nghĩa chung toàn cầu cho hợp tác xã. Tuy nhiên, có hai định nghĩa được dùng phổ biến. Theo Liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA): hợp tác xã là tổ chức tự chủ của những người tự nguyện tập hợp nhau lại nhằm thoả mãn những nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, văn hoá và xã hội thông qua việc tham gia góp vốn và quản lý dân chủ.
Các nhà lãnh đạo hợp tác xã trên toàn thế giới công nhận ICA, một tổ chức phi chính phủ với hơn 233 tổ chức thành viên từ 89 quốc gia hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Theo đó, cơ quan này đại diện cho hơn 800 triệu cá nhân trên toàn thế giới. Định nghĩa của ICA đề cập đến yếu tố chính của hợp tác xã đó là: thành viên tự nguyện. ép buộc là trái ngược với hợp tác xã.
Người bị ép buộc hành động trái với nguyện vọng của họ không thực sự là hợp tác xã. Hợp tác xã thực sự phải hình thành từ sự tin tưởng vào sự giúp đỡ lẫn nhau; không thể là mệnh lệnh. Trong hợp tác xã thực sự, xã viên tự nguyện gia nhập và tự do rời bỏ hợp tác xã vào bất cứ lúc nào. Các hợp tác xã gượng ép thường thấy ở Liên Xô cũ là một ví dụ, đó không thực sự là hợp tác xã.
Một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi khác là định nghĩa được Bộ Nông nghiệp Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ (USDA) thông qua vào năm 1987: Hợp tác xã là cơ sở kinh doanh do những người sử dụng tự làm chủ và tự quản lý, lợi nhuận được chia dựa trên cơ sở của việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ. Định nghĩa 7 này đưa ra 3 nguyên tắc chung của hợp tác xã cấp I: xã viên tự làm chủ, tự quản lý, và phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ. Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhau cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” [15]. Các loại hình hợp tác xã Hợp tác xã bao gồm các loại hình sau: hợp tác xã nông nghiệp; hợp tác xã công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; hợp tác xã xây dựng; hợp tác xã giao thông vận tải; hợp tác xã thương mại dịch vụ; Hợp tác xã tín dụng và hợp tác xã khác.
Khái niệm, phân loại, đặc điểm, vai trò của hợp tác xã nông nghiệp 1. Khái niệm Từ định nghĩa về hợp tác xã có thể đưa ra định nghĩa hợp tác xã nông nghiệp như sau: Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 nông dân, hộ gia đình nông nghiệp tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhau cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã. Đặc điểm hợp tác xã nông nghiệp Thứ nhất, xét về góc độ kinh tế, HTX NN là một tổ chức kinh tế mang tính xã hội. Tính xã hội của HTX NN thể hiện ở chỗ: - Nguyên tắc phân chia lợi nhuận: Một phần lợi nhuận trong HTX NN dùng để trích lập các quỹ, được phân chia cho việc đáp ứng nhu cầu giáo dục, huấn luyện, thông tin cho thành viên, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa – xã hội chung của cộng đồng dân cư địa phương … Một phần lợi nhuận khác cần được phân phối lại cho thành viên theo mức độ sử dụng dịch vụ.
Do vậy mà kể cả những thành viên góp vốn ít nhưng vẫn có cơ hội được nhiều lợi nhuận hơn người góp nhiều. 8 - Tổ chức quản lí: thành viên HTX NN có quyền biểu quyết ngang nhau. - HTX NN được thành lập để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm tạo việc làm cho các thành viên, thúc đẩy sự phát triển và góp phần hạn chế thất nghiệp trong xã hội. Thứ hai, có số lượng thành viên tối thiểu là 7.
Thứ ba, xét về góc độ pháp lý HTX NN có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn của mình. Thứ tư, thành viên HTX NN góp vốn đồng thời cam kết sử dụng sản phẩm dịch vụ của HTX hoặc người lao động trong HTX. Nếu không sử dụng sản phẩm dịch vụ trong thời gian 3 năm trở lên hoặc không làm việc trong hợp tác xã quá 2 năm thì mất tư các thành viên. Phân loại HTX NN HTX NN được phần thành 7 loại như sau: Hợp tác xã trồng trọt: Là hợp tác xã có hoạt động sản xuất trồng trọt (trồng cây hàng năm, cây lâu năm; nhân và chăm sóc cây giống nông nghiệp) và dịch vụ trồng trọt có liên quan; dịch vụ sau thu hoạch; xử lý hạt giống để nhân giống.
Hợp tác xã chăn nuôi: Là hợp tác xã có hoạt động sản xuất chăn nuôi (trâu, bò, ngựa, lừa, la, dê, cừu, lợn, gia cầm và chăn nuôi khác); dịch vụ chăn nuôi có liên quan; săn bắt, đánh bẫy và hoạt động dịch vụ có liên quan. Hợp tác xã lâm nghiệp: Là hợp tác xã có hoạt động sản xuất lâm nghiệp (trồng và chăm sóc rừng; khai thác gỗ và lâm sản khác; thu nhặt sản phẩm từ rừng không phải gỗ và lâm sản khác) và dịch vụ lâm nghiệp có liên quan. Hợp tác xã thủy sản: Là hợp tác xã có hoạt động nuôi trồng thuỷ sản (nuôi trồng thuỷ sản biển, nội địa; sản xuất giống thuỷ sản); khai thác thủy sản (khai thác thủy sản biển và nội địa, bao gồm cả bảo quản thuỷ sản ngay trên tàu đánh cá). Hợp tác xã diêm nghiệp: Là hợp tác xã có hoạt động khai thác muối (khai thác muối mỏ, đập vụn muối và sàng muối; sản xuất muối từ nước biển, nước 9 mặn ở hồ hoặc nước mặn tự nhiên khác; nghiền, tẩy rửa, và tinh chế muối phục vụ cho sản xuất) và dịch vụ có liên quan đến phục vụ khai thác muối.
Hợp tác xã nước sạch nông thôn: Là hợp tác xã có hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước sạch (khai thác nước từ sông, hồ, ao; thu nước mưa; thanh lọc nước để cung cấp; khử muối của nước biển để sản xuất nước như là sản phẩm chính; phân phối nước thông qua đường ống, bằng xe hoặc các phương tiện khác) cho nhu cầu sinh hoạt trên địa bàn nông thôn. Hợp tác xã nông nghiệp tổng hợp: Là hợp tác xã có hoạt động từ hai lĩnh vực hoạt động trở lên [8]. Vai trò của HTX NN Ở Việt Nam, với hơn 80% dân sống ở vùng nông thôn, các điều kiện về giao thông, thông tin liên lạc còn khó khăn, đời sống nông dân nhìn chung còn thấp hơn nhiều so với mức trung bình chung của dân thành thị. Mặt khác, với truyền thống sản xuất nông nghiệp thủ công, ruộng đất manh mún, chưa có điều kiện để cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, những người nông dân rất cần hợp tác với nhau để cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất và cả trong đời sống hàng ngày.
Phát triển KTTT, HTX NN là nội hàm của tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Hợp tác xã nông nghiệp chính là liên kết của các hộ nông dân, phát triển KTTT, HTX NN không làm mất đi vai trò của kinh tế hộ mà còn nâng đỡ, phát huy sức mạnh cho kinh tế hộ phát triển. Hiệu quả của HTX NN chính là hiệu quả của hộ gia đình, HTX NN phát triển thì đời sống hộ thành viên nói riêng và nông thôn nói chung tăng lên. Không có mô hình nào phù hợp với nông dân Việt Nam hơn mô hình HTX, không chỉ giúp nông dân thoát nghèo mà hoàn toàn có thể làm giàu.
Vì vậy, HTX NN có vai trò sau: Một là, hợp tác xã nông nghiệp với tư cách là một thể chế kinh tế đặc biệt không mâu thuẫn với cơ chế kinh tế thị trường, không những có thể phát huy lợi thế và tiềm năng của mình trong nền kinh tế thị trường, mà còn bổ khuyết cho cơ chế thị trường. 10 Hợp tác xã đã có lịch sử phát triển lâu dài, liên tục trong gần 200 năm qua trên thế giới nói chung và ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển nói riêng như Đức, Anh, Pháp, Nhật, Mỹ, Canada, Italia, và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Hợp tác xã đã trở thành một phong trào quốc tế rộng lớn với tổ chức đại diện là Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) thu hút sự tham gia của trên 200 tổ chức đại diện quốc gia của khoảng gần 100 nước với gần 800 triệu thành viên trong số hơn 6 tỷ người, chưa kể số lao động làm việc trong khu vực hợp tác xã. Cơ chế kinh tế thị trường ra đời gắn liền với chủ nghĩa tư bản, lao động tự do làm thuê và cạnh tranh thị trường.
Hợp tác xã dựa trên hoạt động kinh tế và nhu cầu thực tế của các cá nhân và doanh nghiệp; gắn các cá nhân, hộ sản xuất nhỏ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau nhằm nâng cao hiệu quả, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Như vậy, cơ chế kinh tế thị và hợp tác xã là hai cơ chế bổ khuyết cho nhau: cơ chế kinh tế thị trường giải phóng tối đa tiềm năng cho các cá nhân, doanh nghiệp.