mở đầu cho bước chuyển biến nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã xác định đường lối đổi mới toàn diện đặt trọng tâm là đổi mới kinh tế. Đại hội khẳng định: “Phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [35, tr. 13 z Quán triệt quan điểm của Trung ương Đảng coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, Tỉnh ủy Hà Bắc đã có nhiều nghị quyết bổ sung vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển KTXH của Tỉnh.
Báo cáo bổ sung Nghị quyết Đại hội VII của Đảng bộ Tỉnh xác định: “nắm vững mục tiêu quan trọng hàng đầu là giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm để ổn định đời sống nhân dân” [4, tr. Tỉnh ủy Bắc Ninh xác định nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ trọng yếu nhất, vấn đề lương thực, thực phẩm được đặt lên hàng đầu. Để thực hiện mục tiêu đặc biệt là quán triệt quan điểm của Trung ương Đảng về kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Đảng bộ Tỉnh đã đề ra nhiều biện pháp chỉ đạo phát triển nông nghiệp. Để phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng, trước hết cần phải có cơ chế thích hợp.
Cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp đã được thực hiện và nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là củng cố các HTX nông nghiệp cả về cơ cấu tổ chức và quy mô. Các HTX trong Tỉnh đã từng bước nâng cao hiệu quả quản lý điều hành của ban quản lý HTX và tăng cường quản lý việc sử dụng đất đai. Ban quản lý HTX chuyển chức năng từ quản lý theo kế hoạch, khoán việc; bình quân chấm điểm sang hướng dẫn kỹ thuật và dịch vụ các khâu làm đất, bảo vệ thực vật, tưới tiêu nước.Bộ máy quản lý được tinh gọn đã làm giảm chi phí gián tiếp, tăng hiệu quả điều hành. Đây là điều kiện mang tính tiên quyết thúc đẩy nông nghiệp của Tỉnh có bước chuyển biến mới những năm trước tái lập.
Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 10 (1988), Luật đất đai (1993), đến năm 1993, các huyện, thị xã trong Tỉnh đã cơ bản hoàn thành giao ruộng đất cho nông dân, toàn bộ diện tích mặt nước, ao hồ, đầm lầy các địa phương đều cho xã viên tham gia đấu thầu. Những cơ chế mới được thực hiện đã tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nông nghiêp của Tỉnh về các mặt: 14 z Cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển dịch. Năm 1995, trồng trọt chiếm 62,11%, chăn nuôi chiếm 37,89% tỷ trọng ngành nông nghiệp. Về trồng trọt: năm 1995, tổng diện tích gieo trồng đạt 100.657 ha, tổng sản lượng quy thóc đạt 308.553 tấn; lương thực bình quân đầu người đạt 339,7 kg/năm, cao hơn mức bình quân lương thực chung của cả nước.
Kinh tế vườn đồi được nhân rộng. Đến năm 1995, toàn Tỉnh có hàng trăm vườn cây ăn quả, mỗi năm cho thu nhập hàng chục triệu đồng. Bên cạnh đó, mỗi năm Tỉnh còn trồng thêm khoảng 2 triệu cây lấy gỗ, phủ kín các đồi trọc. Về chăn nuôi: chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng được quan tâm và có bước phát triển với nhiều mô hình làm kinh tế theo công thức VAC, áp dụng khoa học, kỹ thuật và bước đầu đưa cây con giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất.
Nhiều huyện trong Tỉnh đã phát triển mạnh đàn giá súc, gia cầm như huyện Gia Bình, Lương Tài với khoảng hơn 300 hộ nuôi gà công nghiệp, 100 hộ chăn nuôi con đặc sản như ếch, ba ba, lươn. Các huyện như Quế Võ, Yên Phong đã đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính. Đặc biệt, Tỉnh còn phát triển mạnh nghề trồng dâu, nuôi tằm ở một số huyện như Yên Phong, thuận Thành. Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp: Bắc Ninh có một số huyện nằm trong vùng trũng có bình độ thấp như Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành.
Để chủ động tưới tiêu, Tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng trong thời gian từ 1991 - 1995, huy động hàng vạn dân công nạo vét kênh mương. Toàn Tỉnh có trên 300 trạm bơm đảm bảo chủ động tưới tiêu cho trên 70% diện tích canh tác. Hệ thống đường giao thông phục vụ nông nghiệp từng bước được cải thiện. Đến cuối năm 1996, hầu hết các tuyến đường giao thông liên huyện, liên xã được trải nhựa, dải cấp phối.
Một số đường thuộc khu trung tâm của các xã đã được bê tông hóa, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn 15 z phát triển. Đặc biệt là tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh và với các địa phương khác. Mạng lưới điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất được mở rộng. Tính đến 1996, toàn Tỉnh có 122/123 xã có điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong nông nghiệp, thực trạng nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh vẫn còn những hạn chế, yếu kém: Sản xuất nông nghiệp của Tỉnh phát triển không đều, tốc độ tăng chậm, bấp bênh. Sản xuất nông nghiệp chưa phát triển toàn diện, trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tỷ trọng của ngành; chăn nuôi đặc biệt là nuôi trồng thủy sản chưa được quan tâm đúng mức vì vậy sản lượng đạt được thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng. Trong trồng trọt, diện tích cây rau màu, cây có hiệu quả kinh tế cao, cây công nghiệp có diện tích nhỏ không tận dụng được hết lợi thế của Tỉnh so với các tỉnh khác ở đồng bằng sồng Hồng đặc biêt là lợi thế về diện tích đất đồi. Tuy nhiên nhìn chung nông nghiệp của Tỉnh vẫn còn trong tình trạng manh mún, hiệu quả kinh tế thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất để tăng năng suất lao động còn rất hạn chế.
Nông nghiệp của Tỉnh vẫn được sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vì vậy hiệu quả thấp. Tỷ lệ cơ giới hóa, điện khí hóa các khâu sản xuất còn thấp. Lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhưng hầu hết là lao động giản đơn, lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ thấp hơn các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng. Chính vì vậy đã hạn chế đến việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Sự chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của các ngành trong Tỉnh chưa thực sự sát sao; thiếu những chủ trương, biện pháp cụ thể; thiểu kiểm tra, đôn đốc chặt chẽ. Các Chỉ thị, Nghị quyết chưa được cụ thể hóa và vận dụng phù hợp vào đặc điểm từng lĩnh vực của nông nghiệp, từng địa phương trong Tỉnh. 16 z Thực trạng này đòi hỏi Đảng bộ Tỉnh phải tiếp tục có những giải pháp phù hợp, sát thực tiễn để tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong nông nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển KTXH của Tỉnh trong tương lai. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh vận dụng chủ trương của Trung ương Đảng lãnh đạo phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm 1997 - 2000 1.
Chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam Phát triển nông nghiệp là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển KTXH đặc biệt ở những quốc gia đi lên từ điểm xuất phát thấp như Việt Nam. Chính vì vậy, vấn đề nông nghiệp luôn được Đảng đặt lên vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của mọi giai đoạn lịch sử. Đặc biệt là trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Về bản chất “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [39, tr.
Như vậy, có thể thấy mục tiêu của quá trình CNH, HĐH là nâng cao hiệu quả KTXH, giữ nhịp độ tăng trưởng nhanh và bền vững. Việt Nam là một quốc gia có đến gần 80% dân số nông thôn, gần 70% lực lượng lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp, tạo ra gần 1/3 tổng sản phẩm trong nước và hơn 40% giá trị xuất khẩu hàng năm nên nông nghiệp có vai trò không thể thay thế trong sự nghiệp phát triển KTXH của đất nước. CNH nông nghiệp, nông thôn là nội dung quan trọng nhất trong quá trình CNH đối với tất cả các quốc gia. Căn cứ vào điều kiện thực tiễn của nước ta và vận dụng kinh nghiệm của các nước tiên tiến, Đảng đã khẳng định 17 z phải đặc biệt coi trọng CNH nông nghiệp và nông thôn trong thời kì đầu của quá trình CNH.
Nước ta tiến hành CNH trong điều kiện một nền kinh tế thuần nông, trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, chủ yếu là sản xuất tự cấp tự túc vì thế cần nhanh chuyển sang nền kinh tế nông - công nghiệp và dịch vụ, sản xuất nông sản hàng hóa, tạo cơ sở và tiền đề cho công cuộc CNH, HĐH đất nước. Mặt khác, nông nghiệp và nông thôn là khu vực kinh tế có nhiều tiềm năng về đất đai và lao động - hai nguồn lực quan trọng để xây dựng, phát triển KTXH. Vì thế, sự nghiệp CNH, HĐH phải được bắt đầu từ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, ngay từ thập niên 60 của thế kỉ XX, Đảng đã xác định CNH là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kì quá độ lên CNXH với đường lối CNH được xác định là xây dựng một nền kinh tế cân đối và hiện đại, lấy nông nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến.
Quá trình CNH trong nông nghiệp, nông thôn lại được tiếp tục trong thời kì 1976 - 1980 được thực hiện với nội dung chủ yếu là cơ giới hóa đồng bộ và áp dụng các phương pháp công nghiệp trong trồng trọt và chăn nuôi.