Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam hiện có 164 khu rừng đặc dụng, giữ vai trò quan trọng trong việc lưu giữ nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học. Tuy nhiên, công tác quản lý tại các vườn quốc gia (VQG) và khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) đang đối mặt với mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nguyên trạng tài nguyên rừng và nhu cầu sử dụng tài nguyên phục vụ đời sống của cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng đệm. Khi các khu rừng đặc dụng được thành lập, người dân bản địa vốn có tập quán sống dựa vào rừng bị hạn chế hoặc mất đi các nguồn sinh kế truyền thống như canh tác nương rẫy, khai thác lâm sản. Việc thiếu đất canh tác kết hợp với khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn sinh kế mới thay thế đã dẫn đến tình trạng xâm lấn đất rừng và khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên. Ngược lại, sự suy giảm tài nguyên rừng tác động trực tiếp đến an ninh lương thực và làm gia tăng mức độ rủi ro kinh tế cho các nông hộ.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, tác giả Tòng Văn Toản đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên với đề tài: "Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Xuân Sơn – xã vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Sơn".
Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá thực trạng sinh kế của các hộ nông dân tại xã Xuân Sơn, phân tích các yếu tố tác động, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho người dân địa phương. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định bao gồm:
- Đánh giá những điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa phương có ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của các hộ nông dân tại xã Xuân Sơn thuộc vùng đệm VQG Xuân Sơn.
- Đánh giá thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích các vấn đề tồn tại trong hoạt động tạo sinh kế của nông hộ và làm rõ nguyên nhân của các tồn tại đó.
- Phân tích các tiềm năng phục vụ việc cải thiện và đa dạng hóa hoạt động sinh kế của người dân.
- Đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Xuân Sơn.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các hộ nông dân vùng đệm VQG Xuân Sơn, các hoạt động tạo sinh kế, môi trường sinh kế và hệ thống các nguồn lực sinh kế của nông hộ. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại 4 xóm: xóm Lạng, xóm Lấp, xóm Cỏi và xóm Dù thuộc xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài diễn ra từ ngày 23/02/2014 đến ngày 25/05/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận về vùng đệm theo các văn bản quản lý nhà nước như Công văn số 1568/LN-KL (ngày 13/9/1993) của Bộ Lâm nghiệp, Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, Nghị định số 117/2010/NĐ-CP về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng, và Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg quy định chính sách hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm mức 40 triệu đồng/thôn, bản/năm. Khung phân tích sinh kế bền vững được tiếp cận theo hướng dẫn của Cục Hợp tác Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2001) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 2001), tập trung vào 5 nguồn vốn sinh kế: vốn tự nhiên (đất đai, rừng, nước), vốn nhân lực (lao động, sức khỏe, kỹ năng), vốn vật chất (tư liệu sản xuất, hạ tầng), vốn tài chính (tiền mặt, tiết kiệm, khả năng tiếp cận tín dụng) và vốn xã hội (mạng lưới gia đình, cộng đồng, đoàn thể).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa tiếp cận định tính và định lượng:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo quản lý đất đai từ UBND xã Xuân Sơn và Ban quản lý VQG Xuân Sơn.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát điều tra bảng hỏi bán cấu trúc kết hợp câu hỏi đóng và mở đối với 60 hộ nông dân được lựa chọn ngẫu nhiên phân bổ đều tại 4 thôn/bản (15 hộ/thôn tại xóm Lạng, xóm Lấp, xóm Cỏi, xóm Dù); thực hiện phỏng vấn nhanh bán cấu trúc đối với 4 cán bộ xã và 4 trưởng thôn; áp dụng các công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và phương pháp quan sát thực địa.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm Excel để thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình), phân tích tương quan, phương pháp lịch sử so sánh đối chiếu và phân tích định tính SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức).
- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá: Bao gồm nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế (giá trị sản xuất GO, chi phí trung gian IC, giá trị gia tăng VA, thu nhập hỗn hợp/lợi nhuận Pr và các tỷ suất GO/IC, VA/IC, Pr/IC, Pr/LĐ, Pr/DT); nhóm chỉ tiêu sử dụng lao động (cơ cấu lao động, tỷ lệ lao động thuê mướn, trang bị thiết bị); và nhóm chỉ tiêu sử dụng đất đai (cơ cấu diện tích các loại đất, hệ số sử dụng đất, năng suất cây trồng).
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần I: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của vấn đề giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa bảo tồn rừng đặc dụng và cải thiện kinh tế nông hộ tại các xã vùng đệm. Xác định mục tiêu tổng thể và 5 mục tiêu cụ thể, làm rõ ý nghĩa học thuật, giá trị thực tiễn và các đóng góp mới của đề tài về mặt nhận diện đặc thù sinh kế người dân bản địa tại khu vực VQG Xuân Sơn.
Phần II: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hệ thống hóa các khái niệm về vùng đệm, sinh kế, hộ nông dân và kinh tế nông hộ. Tổng kết kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (kinh nghiệm bảo vệ rừng gắn với tri thức bản địa của người Dai tại Vân Nam - Trung Quốc; cơ chế đồng quản lý tại Indonesia, khu bảo tồn Nerfu ở Zambia và VQG Sagarmatha ở Nepal). Điểm luận các nghiên cứu trong nước của Cao Thị Lý (2008), Trần Đức Thanh (2006), Võ Quý (1997), Nguyễn Bá Thụ (2001) và các mô hình tài trợ của GEF/SGP, DED tại các vùng đệm, điển hình là VQG Cát Tiên. Tác giả chỉ ra các tồn tại phổ biến: diện tích đất canh tác ít, năng suất cây trồng thấp, chăn nuôi nhỏ lẻ và khả năng tích lũy vốn của hộ còn hạn chế.
Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày cụ thể đối tượng, phạm vi nghiên cứu tại 4 xóm thuộc xã Xuân Sơn từ đầu năm 2014 đến giữa năm 2015. Thiết lập hệ thống nội dung khảo sát 3 trọng tâm: điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội; thực trạng các hoạt động sinh kế; thực trạng quản lý và sử dụng 5 nguồn vốn sinh kế. Mô tả quy trình chọn mẫu điều tra 60 hộ gia đình và 8 cán bộ cơ sở, cùng phương pháp phân tích số liệu trên Excel và khung chỉ tiêu kinh tế nông hộ.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chương tập trung phản ánh các số liệu thực tế qua quá trình khảo sát tại địa bàn:
-
Điều kiện tự nhiên và hạ tầng cơ sở: VQG Xuân Sơn có diện tích vùng lõi là 15.048 ha và vùng đệm là 18.369 ha. Xã Xuân Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 6.560,05 ha; trong đó đất lâm nghiệp chiếm phần lớn với 5.403,69 ha, đất nông nghiệp là 5.594,53 ha, đất phi nông nghiệp 59,57 ha và đất chưa sử dụng còn 897,91 ha (chiếm 13,69%). Xã có khí hậu mát mẻ, lượng mưa trung bình năm đạt từ 1.800 mm đến 2.000 mm, nhiệt độ trung bình từ 18 đến 25°C. Toàn bộ 100% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia qua 7 trạm biến áp với 15 km đường dây. Xã có 1 trạm y tế, 4 điểm trường phục vụ 3 cấp học, 1 chợ hoạt động theo phiên (thứ Hai, thứ Năm, Chủ nhật) và 5 cụm loa phát thanh.
-
Dân số, lao động và phân loại hộ: Xã Xuân Sơn có 281 hộ với 1.140 nhân khẩu phân bố tại 4 khu hành chính: Lạng, Dù, Lấp, Cỏi. Về cơ cấu dân tộc, người Dao chiếm 50,3%, người Mường chiếm 49,3%, người Nùng chiếm 0,4%. Lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 742 người (96,6% tổng số 768 lao động). Khảo sát 60 hộ điều tra ghi nhận: nhóm hộ khá giả chiếm 16,7% (10 hộ), nhóm hộ trung bình chiếm 41,7% (25 hộ), nhóm hộ nghèo chiếm 30% (18 hộ) theo tự đánh giá của người dân.
-
Hiện trạng hoạt động sinh kế và thu nhập: Sản xuất lúa nước là hoạt động quan trọng nhất với diện tích toàn xã là 82 ha, năng suất bình quân 46 tạ/ha, sản lượng 377 tấn, trong đó giống lúa lai chiếm 70% diện tích; diện tích ngô đạt 25,6 ha (năng suất 42 tạ/ha), sắn 11 ha, lạc 5,5 ha. Tổng đàn vật nuôi của xã có 347 con trâu, 349 con bò, 71 con dê, đàn lợn và gia cầm duy trì theo hình thức nhỏ lẻ, chăn thả rông. Cơ cấu thu nhập của hộ gồm 5 nguồn chính: trồng lúa nước, hoa màu (ngô, sắn), chăn nuôi, lương/trợ cấp và khai thác lâm sản. Mức thu nhập bình quân giữa các nhóm hộ có sự chênh lệch lớn: thu nhập của nhóm hộ khá giả cao gấp khoảng 7 lần so với nhóm hộ nghèo, và nhóm hộ trung bình cao gấp khoảng 3 lần nhóm hộ nghèo.
-
Khai thác lâm sản ngoài gỗ (LSNG): Tác giả lập ma trận thống kê trên 33 loại LSNG đang được người dân thu hái. Các sản phẩm có mức độ sử dụng nhiều và thiết yếu gồm: măng, củi, tre, nứa. Nhóm cây dược liệu và rau rừng gồm lông cu li, cốt toái bổ, ba kích, sa nhân, hoàng đằng, khôi tía, đùm đũa tím, thổ phục linh, ngót rừng, bò khai. Việc khai thác mang tính tự nhiên phục vụ đời sống gia đình là chủ yếu, hoạt động thương mại hóa còn hạn chế do vị trí khai thác nằm sâu trong rừng đặc dụng.
-
Nguồn lực sinh kế của nông hộ:
- Vốn đất đai: Diện tích đất lúa nước bình quân hộ đạt 13.424,7 m² đối với lúa 1 vụ và 17.015,7 m² đối với lúa 2 vụ. Đất vườn nhà bình quân đạt 28.400 m². Các giống lúa phổ biến là Khang Dân, Bao Thai và lúa lai; năng suất đạt 1,8 - 2,0 tạ/sào.
- Vốn lao động: Tổng số 60 hộ khảo sát có 260 nhân khẩu và 168 lao động. Khảo sát ghi nhận không có lao động nào đi làm thuê ngoài địa phương (chỉ số bằng 0 cả trong và ngoài tỉnh).
- Vốn tài chính: Khả năng tích lũy thấp. Tiếp cận tín dụng chủ yếu từ Ngân hàng Chính sách xã hội (17 hộ vay, mức bình quân 50,5 triệu đồng/hộ), Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT (6 hộ vay, bình quân 110 triệu đồng/hộ), Hội Phụ nữ (3 hộ vay, bình quân 25 triệu đồng/hộ), Hội Cựu chiến binh (1 hộ vay, 5 triệu đồng/hộ). Không có hộ vay qua kênh tư thương hay tín dụng đen.
- Khả năng tiếp cận thông tin: 100% hộ tiếp cận thông tin sản xuất qua vô tuyến, hệ thống khuyến nông - lâm, các tổ chức đoàn thể địa phương và học hỏi lẫn nhau. Tỷ lệ tiếp cận qua báo in, sách kỹ thuật và đài radio là 0%.
Phần V: Các giải pháp, kiến nghị
Xác định định hướng chiến lược cải thiện sinh kế gắn với bảo vệ rừng VQG Xuân Sơn; đưa ra các nhóm giải pháp về phát triển nông - lâm nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, cải tạo vườn tạp, phát triển chăn nuôi đại gia súc tập trung thay thế chăn thả rông; nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay và tăng cường đào tạo khuyến nông gắn với các quy định quản lý vùng đệm.
Kết quả và đóng góp của đề tài
Dữ liệu định lượng tổng hợp từ nghiên cứu
| Nhóm chỉ tiêu |
Số liệu ghi nhận tại địa bàn |
| Quy mô dân cư xã Xuân Sơn |
281 hộ; 1.140 nhân khẩu; 768 lao động (lao động nông nghiệp chiếm 96,6%). |
| Cơ cấu thành phần dân tộc |
Dân tộc Dao: 50,3%; Dân tộc Mường: 49,3%; Dân tộc Nùng: 0,4%. |
| Hiện trạng nhà ở (60 hộ điều tra) |
Nhà sàn gỗ truyền thống: 31,7%; Nhà tranh tre: 30,0%; Nhà gỗ 1 sàn nền đất: 16,7%; Nhà cấp 4 lợp ngói: 13,3%; Nhà kiên cố: 6,7%; Loại khác: 1,7%. |
| Trang bị tài sản phục vụ sinh hoạt và sản xuất |
60/60 hộ có ti vi màu; 81 xe máy/60 hộ; 30/60 hộ có tủ lạnh; 28 bếp ga; 23 máy cày; 22 máy bơm nước; 1 máy kéo; 2 ô tô vận tải; 110 điện thoại liên lạc/60 hộ. |
| Quy mô đàn vật nuôi (60 hộ khảo sát) |
141 con trâu; 141 con bò; 126 con lợn thịt; 71 con lợn nái; 280 con gà; 65 con vịt. |
| Tình hình vay vốn sản xuất (60 hộ) |
17 hộ vay Ngân hàng Chính sách xã hội (50,5 triệu đ/hộ); 6 hộ vay Ngân hàng NN&PTNT (110 triệu đ/hộ); 3 hộ vay Hội Phụ nữ (25 triệu đ/hộ); 1 hộ vay Hội Cựu chiến binh (5 triệu đ/hộ). |
| Lao động đi làm thuê ngoài địa phương |
0 lao động (cả thời hạn dưới 6 tháng và trên 6 tháng). |
Giải pháp và kiến nghị do tác giả đề xuất
- Phát triển trồng trọt và kinh tế vườn hộ: Chuyển đổi diện tích vườn tạp sang trồng cây ăn quả, cây dược liệu bản địa và rau đặc sản phù hợp điều kiện tiểu khí hậu; đưa các giống lúa có năng suất cao vào thâm canh trên diện tích lúa nước hiện có; đầu tư nâng cấp hệ thống mương thủy lợi giải quyết tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô.
- Tổ chức lại chăn nuôi: Chuyển đổi phương thức chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò) từ thả rông trong rừng sang nuôi nhốt hoặc bán chăn thả có kiểm soát; tận dụng phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch; tăng cường công tác thú y và phòng chống dịch bệnh.
- Quản lý tài nguyên rừng và phát triển lâm nghiệp: Phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý VQG và chính quyền địa phương trong việc thực hiện giao khoán bảo vệ rừng; phát triển các mô hình trồng rừng bản địa kết hợp khai thác bền vững các loại lâm sản ngoài gỗ (măng, mây, nứa, dược liệu); kiểm soát việc thu hái tự nhiên xâm lấn vùng lõi.
- Tín dụng và đào tạo khuyến nông: Quản lý chặt chẽ việc sử dụng vốn vay đúng mục đích phát triển sản xuất, hạn chế dùng vốn vay mua sắm tư liệu sinh hoạt; đổi mới hình thức tập huấn khuyến nông theo hướng "cầm tay chỉ việc", kết hợp tri thức bản địa với tiến bộ kỹ thuật.
Đóng góp mới của đề tài
- Làm rõ những nét đặc thù về sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số (Dao, Mường) tại vùng đệm VQG Xuân Sơn so với các vùng nông thôn miền núi thông thường khác, đặc biệt là sự thiếu hụt đất sản xuất lâm nghiệp do diện tích nằm trong quy hoạch rừng đặc dụng.
- Phân tích cụ thể mức độ mâu thuẫn giữa quy định bảo tồn nguyên trạng của VQG Xuân Sơn với tập quán thu hái lâm sản ngoài gỗ truyền thống của người dân.
- Xác định danh mục 33 loài lâm sản ngoài gỗ và phân nhóm mức độ khai thác thực tế, làm cơ sở thực chứng để xây dựng các mô hình phát triển sinh kế tại chỗ gắn với giảm áp lực lên tài nguyên rừng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Phát triển nông thôn và Quản lý môi trường.
- Cán bộ quản lý tại Ban quản lý VQG Xuân Sơn và các ban quản lý rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên có điều kiện tương đồng trong việc xây dựng phương án đồng quản lý và giao khoán bảo vệ rừng.
- Chính quyền địa phương xã Xuân Sơn và huyện Tân Sơn (tỉnh Phú Thọ) trong công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bình xét hộ nghèo và triển khai chính sách hỗ trợ phát triển vùng đệm theo Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Bộ công cụ bảng hỏi điều tra kinh tế nông hộ và hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ địa phương.
- Bảng tổng hợp ma trận 33 loài lâm sản ngoài gỗ phân loại theo mức độ cần thiết và tần suất sử dụng của người dân bản địa.
- Phương pháp phân tích, đánh giá 5 nguồn vốn sinh kế (DFID) áp dụng cho cộng đồng người dân tộc thiểu số sinh sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu dân tộc và đặc điểm lực lượng lao động tại xã Xuân Sơn trong nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?
Toàn xã có 281 hộ với 1.140 nhân khẩu; trong đó dân tộc Dao chiếm 50,3%, dân tộc Mường chiếm 49,3%, và dân tộc Nùng chiếm 0,4%. Lực lượng lao động có 768 người, với 742 người làm việc trong ngành nông nghiệp (chiếm 96,6%) và 26 người làm phi nông nghiệp (chiếm 3,4%). Đặc biệt, trong 60 hộ khảo sát với 168 lao động, tỷ lệ lao động đi làm thuê ngoài địa phương (cả ngắn hạn và dài hạn) được ghi nhận là 0%.
2. Tình trạng cơ sở vật chất, nhà ở và trang bị máy móc của các hộ điều tra ra sao?
Về nhà ở, có 31,7% số hộ ở nhà sàn gỗ truyền thống, 30% ở nhà tranh tre, 16,7% ở nhà gỗ 1 sàn nền đất, 13,3% ở nhà cấp 4 lợp ngói và 6,7% ở nhà kiên cố. Về tiện nghi và máy móc sản xuất, 100% hộ có ti vi màu (60/60), có 81 xe máy/60 hộ, 30 tủ lạnh, 28 bếp ga, 23 máy cày, 22 máy bơm nước, 1 máy kéo và 2 ô tô vận tải.
3. Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ (LSNG) tại địa phương có đặc điểm gì?
Nghiên cứu đã ghi nhận trên 33 loại LSNG được người dân khai thác. Các sản phẩm sử dụng nhiều nhất gồm măng, củi, tre nứa. Các cây thuốc và rau rừng thông dụng gồm lông cu li, ba kích, cốt toái bổ, hoàng đằng, khôi tía, sa nhân, bò khai, ngót rừng. Hoạt động khai thác chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt tại chỗ của gia đình; việc thu hái thương mại bán ra thị trường còn hạn chế do nguồn tài nguyên nằm sâu trong ranh giới VQG.
4. Người dân vùng đệm tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ những kênh nào và hạn mức bao nhiêu?
Các hộ nông dân tiếp cận vốn vay chủ yếu qua hai tổ chức tín dụng nhà nước: Ngân hàng Chính sách xã hội (17 hộ vay với mức bình quân 50,5 triệu đồng/hộ) và Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT (6 hộ vay với mức bình quân 110 triệu đồng/hộ). Ngoài ra, có 3 hộ vay qua Hội Phụ nữ (25 triệu đồng/hộ) và 1 hộ vay qua Hội Cựu chiến binh (5 triệu đồng/hộ). Khảo sát không ghi nhận tình trạng vay từ tư thương, người cho vay nặng lãi hay người thân.
5. Các kênh thông tin phục vụ sản xuất nông nghiệp được người dân tiếp cận như thế nào?
100% hộ dân khảo sát tiếp cận thông tin về giống mới, thời vụ, kỹ thuật sản xuất và dịch bệnh qua 4 kênh chính: truyền hình (vô tuyến), hệ thống khuyến nông - khuyến lâm, các tổ chức đoàn thể địa phương và việc học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau giữa các nông dân. Các kênh thông tin truyền thống như đài phát thanh (radio), báo in và sách kỹ thuật có tỷ lệ tiếp cận là 0%.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Tòng Văn Toản đã phản ánh bức tranh thực trạng sinh kế của các nông hộ tại xã Xuân Sơn – vùng đệm VQG Xuân Sơn với nguồn thu nhập chính phụ thuộc vào sản xuất lúa nước, chăn nuôi nhỏ lẻ và khai thác tự nhiên các loài lâm sản ngoài gỗ. Nghiên cứu chỉ ra những mâu thuẫn nội tại giữa việc thực thi quy chế bảo tồn nghiêm ngặt của VQG thành lập năm 2002 với sự thiếu hụt đất sản xuất và nguồn sinh kế thay thế của cộng đồng người Dao, người Mường tại địa phương. Hệ thống số liệu điều tra thực địa 60 hộ nông dân cung cấp luận cứ thực tiễn để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tổ chức lại phương thức chăn nuôi gia súc, phát triển cây dược liệu bản địa và kiểm soát hiệu quả nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho công tác đào tạo chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp cũng như thực tiễn quản lý vùng đệm tại các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam.