Luận án về phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Kon Tum

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Luận án phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại kon tum, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

194
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NNCNC

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NNCNC TẠI KON TUM

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NNCNC Ở KON TUM

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) tại Kon Tum đang trở thành một chủ đề quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. Qua 35 năm đổi mới, nền nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt là trong việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện đời sống của người nông dân. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại Kon Tum vẫn còn nhiều thách thức, như quy mô nhỏ lẻ và năng suất thấp. Việc phát triển NNCNC là cần thiết để nâng cao giá trị nông sản và đảm bảo an ninh lương thực. Sự phát triển của công nghệ số và Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra những cơ hội mới cho nông nghiệp, giúp cải thiện quy trình sản xuất và kết nối thị trường. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển NNCNC tại Kon Tum không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu cấp thiết.

II. Thực trạng phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Kon Tum

Kon Tum có nhiều tiềm năng để phát triển NNCNC, với điều kiện tự nhiên và khí hậu đa dạng. Tuy nhiên, thực trạng hiện tại cho thấy sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào công nghệ thô sơ, quy mô nhỏ lẻ và chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể. Các sản phẩm nông sản chủ lực như cà phê, cao su, và sâm Ngọc Linh chưa được khai thác đúng mức. Mặc dù đã có một số mô hình thành công trong việc ứng dụng công nghệ cao, nhưng tỷ lệ áp dụng vẫn còn thấp. Việc thiếu hụt nguồn lực đầu tư và chính sách hỗ trợ cũng là một trong những rào cản lớn đối với sự phát triển của NNCNC tại địa phương. Để khắc phục tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

III. Giải pháp phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Kon Tum

Để phát triển NNCNC tại Kon Tum, cần tập trung vào một số giải pháp chính. Đầu tiên, cần tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Thứ hai, cần xây dựng các mô hình liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu để chia sẻ kinh nghiệm và công nghệ. Thứ ba, việc đào tạo và nâng cao trình độ cho người nông dân là rất quan trọng, giúp họ nắm bắt và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất. Cuối cùng, cần có chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương để khuyến khích phát triển NNCNC, từ đó nâng cao giá trị nông sản và cải thiện đời sống người dân.

IV. Kết luận

Phát triển NNCNC tại Kon Tum là một nhiệm vụ chiến lược, không chỉ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế địa phương. Việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp sẽ tạo ra những cơ hội mới, giúp Kon Tum phát huy tiềm năng nông sản đặc hữu của mình. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, từ chính quyền, doanh nghiệp đến người nông dân. Chỉ khi có sự đồng lòng và quyết tâm, NNCNC mới có thể trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại Kon Tum.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển NNCNC. Chương 3: Thực trạng phát triển NNCNC tại Kon Tum. Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển NNCNC ở Kon Tum.

9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài: Về NNCNC trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu, nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng, việc ứng dụng công nghệ cao vào trong sản xuất nông nghiệp đã trở thành xu hướng và được nhiều nước quan tâm, chú trọng phát triển. Điển hình là Israel, hầu hết trang trại, nhà lưới, nhà kính đều được ứng dụng công nghệ cao, được trang bị hệ thống điều khiển kỹ thuật số với cảm biến và điều khiển tự động. Thái Lan nắm bắt tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và có chính sách đổi mới, ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp và thực phẩm; xây dựng chương trình hành động cho phát triển NNCNC cho từng vùng với các sản phẩm nông nghiệp cụ thể.

Đài Loan (Trung Quốc) cũng đã xây dựng chương trình nông nghiệp 4.0 định hướng ưu tiên lựa chọn để ứng dụng CNC phát triển nông nghiệp và logistic trong nông nghiệp… Daniel Walker trong công trình nghiên cứu “Các lựa chọn phát triển nông nghiệp CNC ở Úc và Việt Nam”-“High-tech agricultural development options in Australia and Vietnam” [65] đã phân tích, đánh giá nhu cầu nông sản thực phẩm chất lượng cao, có giá trị và an toàn cao ngày càng tăng ở khu vực châu Á. Từ đó đã phân tích phát triển NNCNC ở các khía cạnh: ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, ứng dụng công nghệ di truyền và công nghệ sinh học, triển khai và ứng dụng các công nghệ mới thông qua hệ thống chức năng mới vào phát triển NN với mục đích làm tăng năng suất, chất lượng nông sản đảm bảo an toàn và phát triển bền vững được ứng dụng bởi công nghệ quản lý 4.0 xuyên suốt trong quá trình sản xuất, chế biến. Trong công trình nghiên cứu về Hà Lan “Một nước nhỏ, nghèo tài nguyên thiên nhiên đã xây dựng được một nền nông nghiệp có sức cạnh tranh cao, phát triển bền vững, có hiệu quả cao nhất thế giới” của tác giả Nguyễn Công Tạn [48], đã mô tả điều kiện thiên nhiên về đất đai với ¼ diện tích lãnh thổ thấp hơn mực nước biển, nhiệt độ trung bình rất thấp 8,5-10,90c, độ cao rất thấp so với mực nước biển; dân số, lao động ít, suất đầu tư cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp là rất lớn… Nhưng Hà Lan đã xây dựng các hệ thống đê, thuỷ lợi, kênh thoát nước quy mô rất lớn như những kỳ tích với phương châm “đầu tư cao, thu nhập cao, hiệu suất cao”; tập trung phát triển một số loại cây trồng như rau, hoa, củ và các loại cây 10 ăn quả, bò sữa và tập trung chế biến sâu các nông sản với quy mô lớn; đồng thời với những nông sản không có lợi thế thì thực hiện chính sách nhập khẩu và chế biến sâu. Hà Lan đã thực thi chính sách đầu tư cao cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạnh khoa học công nghệ, thay đổi phương thức sản xuất, phát triển nguồn nhân lực.

Nhờ đó Hà Lan đã có nhiều mặt hàng xuất khẩu đứng đầu thế giới, vượt qua một số nước có điều kiện ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, về dân số và khoa học công nghệ như: Mỹ, Australia, Pháp, Nhật. Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả PhiLip KotLer, Hermawan Kartajaya, Iwan Stiawan “Tiếp thị 4.0 dịch chuyển từ truyền thống sang công nghệ số” [73] đã đề cao vai trò của KHCN, đặc biệt CNC, công nghệ thông tin, công nghệ số đối với sự phát triển kinh tế, đồng thời nhấn mạnh tính liên kết về công nghệ: “hãy nhìn vào các quốc gia đông nhất trên thế giới là “Hợp chủng quốc Facebook” với hơn 1,65 tỷ người, dùng mạng Internet 3,4 tỷ người, những kênh truyền hình lớn như CNN mới chính là lựa chọn hàng đầu”. Ông trùm ngành giải trí SoNy cũng đã hợp tác với YouTube để cho thấy rằng những thế lực hàng ngang không thể bị những thế lực hàng dọc cảng trở”, đây là sự liên kết lớn về mặt công nghệ. “Những liên kết xã hội đã trở thành các tác nhân chính của sự ảnh hưởng, kể cả tác động đến những sở thích cá nhân, vượt hơn cả các chiến dịch truyền thông tiếp thị”.

Các tác giả còn nhấn mạnh vai trò tự động hoá và khoa học công nghệ trong kinh doanh, “Hoạt động kinh doanh tự thân nó cũng dịch chuyển hướng về dung hợp. Công nghệ tạo điều kiện cho tự động hoá và mô hình thu nhỏ, giúp giảm chi phí sản phẩm và cho phép các công ty ở các nước phát triển có thể mở rộng kinh doanh ở những thị trường mới nổi”; KHCN đã tạo sự phát triển bức phá trong các ngành kinh tế và xã hội. Liên kết theo chuỗi giá trị nông sản không dừng lại ở tiêu thụ mà còn kéo dài đến cả dịch vụ thanh toán nhờ công nghệ thông tin, công nghệ số; “ngành viễn thông ở đây cũng phối hợp với các dịch vụ tài chính để cung cấp kênh thanh toán trong việc mua bán hàng hoá và dịch vụ. Các tác giả đã phân tích vai trò và sự cần thiết của KHCN, đặc biệt CNC, công nghệ thông tin, công nghệ số, công nghệ blockchain“, dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), và vạn vật kết nối (IoT)”; tạo điều kiện liên kết chuỗi giá trị nông sản từ sản xuất đến bàn ăn của người tiêu dùng; từ tiếp thị truyền thống sang tiếp thị công nghệ số… “Thương mại hóa nông nghiệp, chuỗi giá trị và giảm nghèo”- “Agriculture commercialization, alue Chains and Poverty Reduction” [63] của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cho rằng các nước đang phát triển sau khi đạt được các mục 11 tiêu về an ninh lương thực quốc gia, phải chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị nông sản toàn cầu, từ việc đặt mục tiêu lương thực là chủ yếu sang sản xuất theo nhu cầu của thị trường mà vẫn đảm bảo an ninh lương thực trong nước, nâng cao giá trị nông sản, nâng cao thu nhập cho nông dân và từng bước chuyển hướng phát triển theo chiều sâu và hiện đại hóa nền nông nghiệp.

Gunter Pauli “Nền kinh tế xanh lam - 10 năm thực hiện - 100 đổi mới - 100 triệu việc làm” - “The Blue Economy -10 years - 100 Innovations - 100 million jobs” Nhà xuất bản thời đại, 2014 [68] đã xây dựng một mô hình sản xuất không chất thải hay thất thoát năng lượng, mô hình khai thác nhiều tầng khép kín, năng lượng chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác không lãng phí, chất thải của công đoạn sản xuất hay một ngành sản xuất này là nguyên liệu đầu vào cho một công đoạn hay ngành sản xuất khác, tạo ra nhiều việc làm, không gây hại tới môi trường, sức khoẻ nhưng vẫn đảm bảo cho các ngành kinh tế phát triển ở mức độ cao và an toàn. Tác giả cho rằng khi áp dụng 4 nguyên tắc của nền kinh tế xanh lam thì lượng tiêu dùng những nguồn tài nguyên không tái tạo sẽ giảm đi, đồng thời vốn, kinh phí đầu tư sẽ giảm đáng kể, giúp tiết kiệm nguyên vật liệu và chi phí. Tác giả cho rằng “khi một công ty dẫn đầu thị trường được thuyết phục là công nghệ mới sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh và thị phần, cũng không có gì cho việc bảo đảm công nghệ ấy sẽ được sử dụng cho việc phát triển”; “chuyển đổi trong nền tảng công nghệ và nhu cầu về năng lực mới sẽ giải thoát một công ty mới bắt đầu hoạt động khỏi sự ràng buột của những kinh nghiệm trước đây trong ngành công nghiệp”. Khi chuyển sang thế kỷ XXI, “nấm đã vượt qua cà phê, trở thành mặt hàng trao đổi nhiều thứ 2 trên thế giới, một cơ hội mới xuất hiện làm tăng thêm giá trị của cả hai: nấm trồng trên chất thải hạt cà phê”, khi lấy hạt “thịt quả”, sau pha chế cà phê là “bã”.

Từ khi hạt cà phê rời nông trại đến người dùng cà phê thì có đến 99,8% sinh khối bị thải bỏ và chỉ có 0,2% được người uống cà phê hấp thụ. Từ đó tác giả đã nghiên cứu kết hợp với một số chất xúc tác khác để tái chế tạo thành những sản phẩm khác có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế rất cao như nấm Liêm xanh, nấm sò, đồng thời tạo ra khối lượng việc làm lớn cho xã hội. Các quá trình chuyển đổi phát triển các dạng sản phẩm đó đều sử dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến tạo ra giá trị sản phẩm vượt trội.2 Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Tác giả tham khảo, nghiên cứu các công trình trong nước và phân chia theo nhóm các vấn đề để thấy phát triển NNCNC cần có sự tiếp cận và phân tích đa chiều từ các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể như sau: 12 1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu phát triển nông nghiệp công nghệ cao liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Trương Thị Minh Sâm, Lâm Quang Huyền, Lê Quốc Sử, Trần Xuân Kiêm, Văn Minh Tâm, Nguyễn Quốc Việt trong công trình nghiên cứu về “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành phố Hồ Chí Minh” [56] đã đưa ra quan điểm chuyển dịch cơ cầu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn TPHCM, phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, lợi thế của từng vùng với từng nhóm ngành hàng nông sản và đã đề xuất một số giải pháp. Trong đó nhấn mạnh lợi thế so sánh, sự liên kết doanh nghiệp (DN) và nông dân (ND) theo chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị nông sản hình thành mạng lưới thu mua đến người dân; cần đẩy mạnh liên kết DN và Hợp tác xã (HTX), Tổ hợp tác (THT), các đại lý.

Nguyễn Thị Tố Quyên và cộng sự trong cuốn “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020” [47] đã phân tích lý thuyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn chỉ rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa các chủ thể, mối tương quan giữa nông thôn và thành thị, giữa NN với CN; từ thực tế các nước và rút ra một số vấn đề cho Việt Nam. Tác giả phân tích những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và nguyên nhân, từ năm 2000 đến 2008; nhận diện những cơ hội và thách thức trong thời kỳ hội nhập và đổi mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Kon Tum" tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp nông nghiệp công nghệ cao nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum. Luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình nông nghiệp hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể để thúc đẩy sự phát triển bền vững trong lĩnh vực này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các công nghệ mới, cũng như cách thức áp dụng chúng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp, từ đó có thể áp dụng vào các mô hình nông nghiệp khác.

Để mở rộng thêm kiến thức về nông nghiệp công nghệ cao, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Luận án Tiến Sĩ về Phát Triển Nông Nghiệp Công Nghệ Cao Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại một trong những thành phố lớn nhất Việt Nam. Bên cạnh đó, bài viết Giải pháp tiếp tục xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu tại thị xã Đông Triều, Quảng Ninh cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách phát triển nông thôn gắn liền với nông nghiệp công nghệ cao. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ mang đến cái nhìn về ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, một phần quan trọng trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nông nghiệp hiện đại tại Việt Nam.