Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2006 ghi nhận bước chuyển mình mạnh mẽ với đội ngũ nhân lực gồm 23 vạn lao động trực tiếp và trên 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm khoảng 2,5% tổng lực lượng lao động toàn quốc. Tại tỉnh Quảng Ninh, du lịch khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn với tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân đạt 27%/năm, thu hút tổng cộng 53.000 lao động vào năm 2006. Tuy nhiên, sự phát triển nóng về quy mô cơ sở vật chất với 902 cơ sở lưu trú và 370 tàu thuyền du lịch đã bộc lộ điểm nghẽn nghiêm trọng về chất lượng nhân sự khi thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt 1,4 ngày/khách và có tới 68% lao động trực tiếp chưa qua đào tạo chuyên môn du lịch.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng du lịch nhanh chóng và sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý và phát triển nhân lực du lịch; khảo sát, phân tích thực trạng số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ lao động từ năm 2001 đến năm 2006; từ đó xác lập hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm đáp ứng mục tiêu đón 5 triệu lượt khách (trong đó có 2,2 triệu lượt khách quốc tế) vào năm 2010.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đội ngũ lao động trực tiếp tại các cơ quan quản lý, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, trọng tâm là thành phố Hạ Long trong khung thời gian 2001 - 2006. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước, tối ưu hóa cơ cấu ngành nghề và nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển nguồn lực con người trong nền kinh tế tri thức kết hợp cùng mô hình quản trị nhân sự ngành dịch vụ. Nghiên cứu tiếp cận sự phát triển nhân lực toàn diện trên ba phương diện cốt lõi: trí lực (trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực giao tiếp và ngoại ngữ), thể lực (sức bền thần kinh, độ dẻo dai cơ bắp phục vụ lao động cường độ cao) và nhân cách - thẩm mỹ (đạo đức nghề nghiệp, văn hóa giao tiếp, tác phong công nghiệp).

Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng mô hình cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực chuẩn quốc tế của Liên minh Châu Âu (EU) theo tỷ lệ vàng 5 : 10 : 85. Theo mô hình này, một hệ thống nhân lực du lịch hiệu quả cần đảm bảo cơ cấu: 5% lao động quản lý lãnh đạo (đào tạo trình độ đại học trở lên), 10% lao động chuyên viên kỹ thuật - kinh tế (đào tạo cao đẳng, chuyên ngành) và 85% lao động tác nghiệp trực tiếp phục vụ khách (đào tạo qua các trường dạy nghề và trung tâm kỹ thuật).

Khung lý thuyết của đề tài gắn liền với 4 khái niệm nền tảng:

  • Nguồn nhân lực du lịch: Tổng thể lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp có đủ điều kiện, năng lực tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị du lịch.
  • Phát triển nguồn nhân lực du lịch: Hệ thống giải pháp, chính sách nhằm nâng cao quy mô, hoàn thiện chất lượng và cơ cấu hóa nhân lực.
  • Tính thời vụ trong lao động du lịch: Sự biến động nhân sự theo chu kỳ mùa vụ du lịch, tạo sức ép lớn lên việc duy trì đội ngũ lành nghề.
  • Quản trị nhà nước về nhân lực du lịch: Hoạt động định hướng, quy hoạch, tiêu chuẩn hóa chức danh và kiểm soát chất lượng đào tạo của các cơ quan quản lý công.

Khung pháp lý tham chiếu xuyên suốt đề tài dựa trên Bộ luật Lao động Việt Nam, Luật Du lịch năm 2005 và các định hướng chiến lược trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX về phát triển nguồn lực con người phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thức từ Sở Du lịch Quảng Ninh, Tổng cục Du lịch và Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2001 - 2006, bao quát hoạt động của 902 khách sạn, nhà nghỉ và 370 đơn vị tàu vận chuyển. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra xã hội học với cỡ mẫu 450 phiếu khảo sát, phân bổ theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên giữa 3 nhóm: 35 cán bộ quản lý nhà nước, 115 nhà quản lý doanh nghiệp và 300 lao động nghiệp vụ trực tiếp (lễ tân, buồng, bàn, bếp, hướng dẫn viên).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích hệ thống kết hợp phương pháp chuyên gia và điều tra thực địa xuất phát từ đặc tính liên ngành, phức tạp của dịch vụ du lịch. Các công cụ thống kê mô tả, phân tích tỷ lệ phần trăm và so sánh đối chiếu được áp dụng để lượng hóa thực trạng cơ cấu, tìm ra những sai lệch so với chuẩn mực đào tạo quốc tế. Toàn bộ quá trình khảo cứu thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành trong mốc thời gian từ quý I/2006 đến quý II/2007 nhằm bảo đảm tính cập nhật cho các đề xuất chiến lược đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn nhân lực tăng trưởng nhanh nhưng mất cân đối giữa lao động trực tiếp và gián tiếp. Tổng số lao động ngành du lịch Quảng Ninh tăng từ 28.000 người năm 2001 lên 53.000 người năm 2006 (tăng gấp 1,86 lần). Tuy nhiên, lao động trực tiếp chỉ tăng từ 9.000 người lên 18.000 người (chiếm 34% tổng số), trong khi lao động gián tiếp tăng nhanh hơn, đạt 35.000 người (chiếm tới 66%).

Thứ hai, chất lượng chuyên môn còn ở mức báo động khi tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên ngành du lịch chỉ chiếm 32% trong tổng số 18.000 lao động trực tiếp. Khoảng 68% nhân sự còn lại chưa qua đào tạo bài bản hoặc chuyển ngang từ các ngành nghề khác như nông nghiệp, công nghiệp than mà không có chứng chỉ nghiệp vụ du lịch chuẩn hóa.

Thứ ba, cơ cấu ngành nghề mất cân đối trầm trọng, đặc biệt là sự thiếu hụt đội ngũ hướng dẫn viên du lịch. Trong tổng thể nhân lực trực tiếp, lao động quản lý nhà nước có 35 người (chiếm 0,2%), quản lý doanh nghiệp chiếm 13,8%, nhân viên buồng chiếm 16,8%, lễ tân chiếm 10,2%, bàn - bar chiếm 8,3%, bếp chiếm 6,5%, nhưng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch chỉ chiếm vẻn vẹn 3% (khoảng 540 người) và nhóm lao động phụ trợ khác chiếm tới 41,2%.

Thứ tư, bất cập sâu sắc về trình độ ngoại ngữ và cơ cấu thị trường. Khoảng 70% nhân lực chỉ đạt trình độ ngoại ngữ giao tiếp cơ bản (chứng chỉ A, B, C), chỉ có 10% đạt trình độ đại học ngoại ngữ. Trong đội ngũ hướng dẫn viên, có tới 89% chỉ sử dụng tiếng Trung để phục vụ thị trường khách Trung Quốc (vốn chiếm 48,5% lượng khách đến tỉnh), trong khi tỷ lệ hướng dẫn viên biết các ngoại ngữ cao cấp khác rất thấp: tiếng Pháp chiếm 4%, tiếng Nga chiếm 1,5%, tiếng Nhật chiếm 1,2% và tiếng Hàn chỉ đạt 0,4%.

Về cơ cấu nhân khẩu học, lao động nữ chiếm ưu thế vượt trội với 62% tổng lực lượng lao động (tập trung ở bộ phận lễ tân, buồng, bàn), trong khi nam giới chiếm 38% (tập trung ở bộ phận hướng dẫn viên với 70% và bếp với 60%). Lực lượng lao động có độ tuổi rất trẻ với 60% nằm trong độ tuổi 25 - 39, nhóm dưới 24 tuổi chiếm 18%, nhóm 40 - 55 tuổi chiếm 20% và trên 55 tuổi chỉ chiếm khoảng 2%.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chất lượng lao động thấp và mất cân đối cơ cấu bắt nguồn từ nguyên nhân quản lý tự phát và thói quen tuyển dụng lao động phổ thông giá rẻ của các doanh nghiệp tư nhân nhằm cắt giảm chi phí đào tạo. Nhiều chủ doanh nghiệp khách sạn xuất thân ngoài ngành, thiếu kiến thức quản trị dịch vụ hiện đại, dẫn đến phong cách quản lý gia đình và tư duy áp đặt, làm giảm tính chuyên nghiệp của toàn bộ hệ thống phục vụ.

Khi so sánh với mô hình chuẩn của EU (tỷ lệ 5 : 10 : 85), cơ cấu nhân lực du lịch Quảng Ninh có độ chênh lệch rất lớn. Tỷ lệ lao động quản lý doanh nghiệp (13,8%) cao hơn mức chuẩn 5%, nhưng chất lượng quản trị lại yếu do phần lớn chưa qua đào tạo đại học chuyên ngành. Ngược lại, tỷ lệ lao động trực tiếp lành nghề thấp xa so với chuẩn 85% do các trường đào tạo nghề trên địa bàn chưa đáp ứng đủ quy mô thực hành.

Để phản ánh sinh động các khoảng cách này, việc trình bày dữ liệu thông qua biểu đồ cột chồng phân chia tỷ lệ lao động qua đào tạo (32%) và chưa qua đào tạo (68%) kết hợp biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu ngoại ngữ của hướng dẫn viên sẽ làm nổi bật ngay nguy cơ tụt hậu của du lịch địa phương. Điều này giải thích tại sao dù sở hữu Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long, mức chi tiêu bình quân và số ngày lưu trú của du khách tại Quảng Ninh vẫn duy trì ở mức thấp (1,4 ngày/khách) trong suốt 6 năm nghiên cứu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và nâng cao năng lực hệ thống cơ sở đào tạo nghề du lịch trên địa bàn tỉnh. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Sở Du lịch Quảng Ninh tiến hành rà soát, đổi mới giáo trình giảng dạy theo chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam, đầu tư hệ thống phòng thực hành mô phỏng chuẩn khách sạn 4 sao. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động trực tiếp qua đào tạo chuyên ngành từ 32% lên 60% vào năm 2010. Lộ trình thực hiện từ quý I/2008 đến hết năm 2010.

Thứ hai, đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực ngoại ngữ cho đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên lễ tân. Các doanh nghiệp lữ hành và khách sạn liên kết mở các khóa đào tạo tiếng Nhật, Hàn, Pháp, Đức cấp tốc cho 500 nhân sự cốt cán. Mục tiêu nâng tỷ lệ hướng dẫn viên phục vụ thị trường khách Đông Bắc Á và Châu Âu lên mức 25% vào cuối năm 2009. Chủ thể thực hiện là Hiệp hội Du lịch tỉnh Quảng Ninh chủ trì phối hợp với các trung tâm ngoại ngữ uy tín.

Thứ ba, hoàn thiện công tác quản lý nhà nước và chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy chế bắt buộc 100% cán bộ quản lý nhà nước về du lịch (hiện có 35 người) và đội ngũ giám đốc điều hành khách sạn phải hoàn thành chứng chỉ bồi dưỡng quản lý kinh tế du lịch cao cấp. Lộ trình triển khai đồng bộ trong giai đoạn 2008 - 2009 do Sở Nội vụ phối hợp cùng Tổng cục Du lịch phụ trách.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục du lịch và huy động nguồn lực đầu tư từ doanh nghiệp lớn. Tỉnh Quảng Ninh cần ban hành chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp du lịch như Tập đoàn Tuần Châu, Công ty Hoàng Gia tự mở trường đào tạo hoặc tài trợ kinh phí thực tập cho sinh viên. Mục tiêu huy động khoảng 15 - 20 tỷ đồng vốn xã hội hóa cho các dự án đào tạo thực nghiệm trong khung thời gian 2008 - 2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Sở Du lịch, Tổng cục Du lịch, UBND tỉnh Quảng Ninh): Sử dụng luận văn như tài liệu tham chiếu cơ sở dữ liệu thực chứng giai đoạn 2001 - 2006 để xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực du lịch địa phương tầm nhìn 2010 - 2020.

Thứ hai, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, khách sạn và vận tải du lịch: Ứng dụng mô hình đánh giá cơ cấu lao động theo chuẩn nghiệp vụ, xây dựng chính sách đãi ngộ, bố trí nhân sự hợp lý giữa các bộ phận lễ tân, buồng, bàn, bếp nhằm hạn chế tính thời vụ và nâng cao năng suất phục vụ.

Thứ ba, các trường đại học, cao đẳng và trung cấp nghề đào tạo du lịch: Tham khảo để điều chỉnh khung chương trình đào tạo sát với nhu cầu thực tế, bổ sung các kỹ năng thực hành và ngoại ngữ hiếm (Nhật, Hàn, Pháp) thay vì chỉ tập trung vào đào tạo lý thuyết thuần túy.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu học thuật: Kế thừa khung lý thuyết phát triển nhân lực ba phương diện (trí lực, thể lực, nhân cách) và phương pháp phân tích cơ cấu định lượng để phát triển các công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế du lịch tại các địa bàn ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng nổi cộm nhất của nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2001 - 2006 là gì? Thực trạng lớn nhất là tình trạng thiếu hụt kỹ năng chuyên môn sâu và mất cân đối cơ cấu. Có tới 68% lao động trực tiếp trong tổng số 18.000 người chưa qua đào tạo du lịch chính quy. Đội ngũ hướng dẫn viên chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn 3%, trong khi thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt 1,4 ngày/khách.

Tại sao cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực du lịch theo tỷ lệ 5 : 10 : 85 lại quan trọng? Mô hình chuẩn của EU phân bổ 5% quản lý, 10% chuyên viên và 85% lao động kỹ thuật tác nghiệp trực tiếp. Mô hình này giúp loại bỏ tình trạng thừa thầy thiếu thợ, bảo đảm lực lượng phục vụ tại các khâu buồng, bàn, bar, bếp có tay nghề cao, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ tổng thể.

Trình độ ngoại ngữ của nhân lực du lịch Quảng Ninh gặp bất cập gì trước xu hướng mới? Khoảng 89% hướng dẫn viên du lịch chỉ sử dụng tiếng Trung, trong khi các ngoại ngữ phục vụ thị trường khách có khả năng chi trả cao lại cực kỳ thấp như tiếng Pháp chiếm 4%, tiếng Nhật 1,2% và tiếng Hàn 0,4%. Sự lệch pha này gây cản trở mục tiêu đa dạng hóa thị trường quốc tế của tỉnh.

Cơ cấu giới tính và độ tuổi tác động thế nào đến tổ chức lao động du lịch? Nữ giới chiếm tới 62% tổng nhân lực, tập trung ở các nghề đòi hỏi sự khéo léo như lễ tân, buồng, bàn, trong khi nam giới chiếm 38% và chiếm đa số ở nghề hướng dẫn viên (70%) và bếp (60%). Dù 60% lao động ở độ tuổi trẻ 25 - 39 đầy nhiệt huyết, ngành lại đối mặt với áp lực biến động nhân sự liên tục do tính chất thời vụ cao.

Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao nhanh chất lượng lao động trực tiếp? Giải pháp đột phá là gắn kết chặt chẽ cơ sở đào tạo với doanh nghiệp du lịch thông qua cơ chế xã hội hóa. Doanh nghiệp trực tiếp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, tài trợ trang thiết bị thực hành và tiếp nhận học viên thực tập, phấn đấu đạt mục tiêu 60% lao động trực tiếp qua đào tạo vào năm 2010.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện bức tranh nhân lực du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2001 - 2006 với quy mô tăng trưởng đạt 53.000 lao động, khẳng định vai trò trụ cột của ngành trong cơ cấu kinh tế địa phương.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn cốt lõi về chất lượng khi chỉ có 32% lao động trực tiếp được đào tạo chuyên môn và đội ngũ hướng dẫn viên thiếu hụt nghiêm trọng (chỉ chiếm 3% tổng lực lượng).
  • Hệ thống hóa khung lý luận khoa học, đối chiếu thực tiễn phát triển nhân lực với mô hình chuẩn quốc tế 5 : 10 : 85 nhằm định hình cơ cấu nhân sự bền vững.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp đào tạo nghề, chuẩn hóa năng lực quản lý nhà nước và huy động nguồn vốn xã hội hóa giáo dục.
  • Xác lập lộ trình hành động giai đoạn 2008 - 2010 nhằm hỗ trợ địa phương hoàn thành mục tiêu đón 5 triệu lượt du khách, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã đặt nền móng lý luận và thực nghiệm đầu tiên về phát triển nhân lực du lịch tại địa bàn trọng điểm Quảng Ninh. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu cần tiếp tục khai thác các phát hiện này để triển khai ngay các chương trình đào tạo chuẩn hóa, góp phần nâng tầm thương hiệu du lịch Vịnh Hạ Long trên trường quốc tế.