MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế trong những giai đoạn lịch sử nhất định phải dựa trên sự cải tiến, đổi mới công nghệ và phát triển vốn con người hay vốn nhân lực. Trên thực tế, sự phát triển thần kỳ của nhiều nước ở khu vực Đông Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của các nước công nghiệp mới (NICs) và Trung Quốc phần lớn đều nhờ vào nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC).
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khi mà sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt thì NNLCLC có vai trò ngày càng quan trọng. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (NNL) nói chung và phát triển NNLCLC nói riêng đối với mỗi quốc gia trên thế giới đã và đang trở thành vấn đề cấp bách có tầm chiến lược, là vấn đề có tính chất sống còn trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế với trình độ khoa học - kỹ thuật, công nghệ ngày càng cao và sự lan tỏa của kinh tế tri thức. Do vậy, phát triển NNLCLC là yếu tố then chốt nhằm phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong bối cảnh mới thoát khỏi nhóm các quốc gia có thu nhập thấp, Việt Nam còn thiếu nhiều nguồn lực cho phát triển như: vốn, công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm quản lý. Thực tế đó đòi hỏi Việt Nam phải có chiến lược sử dụng và phát huy lợi thế của những nguồn lực hiện có, đặc biệt là chiến lược phát triển NNLCLC. Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Sau hơn 18 năm tái lập, Bắc Ninh đã có những bước phát triển mạnh mẽ, mọi mặt và là một trong những tỉnh phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.
Trong tiến trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát triển công nghiệp (CN) trong đó xây dựng các khu công nghiệp (KCN) được coi là khâu đột phá để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh từ nông nghiệp - CN - dịch vụ sang CN - dịch vụ - nông nghiệp và Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh CN vào năm 2015, thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cùng với xu hướng phát triển hiện nay của các KCN Bắc Ninh (chủ yếu là phát triển công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao) tạo ra một mức cầu rất lớn đối với NNLCLC nhất là trong những 1 ngành mũi nhọn của các KCN cũng như của tỉnh như: điện, điện tử, công nghiệp chế biến, hàn, cơ khí… Đánh giá đúng chất lượng NNLCLC, xu thế phát triển và yêu cầu một NNLCLC đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và phù hợp về cơ cấu cho phát triển trong từng KCN của tỉnh giai đoạn tới sẽ giúp địa phương xác định rõ những điểm mạnh và điểm yếu về vốn nhân lực của mình, từ đó có kế hoạch và chính sách đào tạo và thu hút NNLCLC cho các KCN. Đồng thời, chính việc phát triển NNLCLC sẽ tạo cho các doanh nghiệp công nghiệp các tiền đề và điều kiện để sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí tuệ cao, đủ sức cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hóa, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Xuất phát từ những yêu cầu trên, tác giả đã chọn đề tài “ Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại khu công nghiệp Yên Phong, Tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển NNLCLC trong khu công nghiệp. - Đánh giá thực trạng phát triển NNLCLC tại KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2016.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNLCLC tại KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. - Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển NNLCLC tại KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu và làm rõ các vấn đề cơ bản sau: - Một là: Thực trạng phát triển NNLCLC tại KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thời gian qua như thế nào? - Hai là: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển NNLCLC tại KCN 2 Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh? - Ba là: Cần có những giải pháp gì để phát triển NNLCLC đáp ứng nhu cầu của các DN trong KCN Yên Phong, tỉnh BN trong thời gian tới? 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu những vấn đề về phát triển NNLCLC trong các doanh nghiệp (DN) thuộc KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (tập trung vào những đối tượng cơ bản: Nhân lực quản trị DN, đội ngũ lao động có kỹ năng, có trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề cao). Thực hiện điều tra khảo sát các doanh nghiệp trong KCN và người lao động tại KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra còn thực hiện điều tra trên một số đơn vị chắc năng quản lí, hỗ trợ đào tạo đối với DN. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển NNLCLC trong KCN, bao gồm phát triển về mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu NLCLC và vấn đề sử dụng NNLCLC.
- Về không gian: Thực hiện việc nghiên cứu chủ yếu trên địa bàn KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (Bao gồm các DN thuộc KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh), có tham khảo kinh nghiệm của một số tỉnh, thành trong nước và một số quốc gia trong khu vực. - Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng NNLCLC tại KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2016, định hướng và giải pháp phát triển NNLCLC đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 1. Về phương diện lý luận Một trong những đóng góp mới về mặt lý luận của luận văn là xem xét những tác động của bối cảnh mới đối với phát triển của NNLCLC, đó là: hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất các sản phẩm công nghiệp; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ và yêu cầu phát triển các ngành CNHT và ngành công nghiệp công nghệ cao của khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh…Đòi hỏi phát triển NNLCLC phải có những đột phá về mặt chất lượng trong giai đoạn phát triển tới.
Về phương diện thực tiễn Bằng các số liệu thực tiễn, luận văn phân tích và làm sáng tỏ thực trạng phát triển NNLCLC tại KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, những yếu tố tác động và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển NNLCLC trong khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Chỉ ra những bất cập về cơ cấu công nghiệp với cơ cấu lao động chất lượng cao trong KCN Yên Phong trên các khía cạnh về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển NNLCLC tại KCN Yên Phong,tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh phát triển mới: tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao nhằm thúc đẩy phát triển KT - XH Bắc Ninh đến 2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 2. Các khái niệm * Nguồn nhân lực Để hiểu rõ hơn khái niệm NNLCLC, trước hết chúng ta hãy xem xét thuật ngữ nguồn nhân lực (NNL – Human Resources). Khái niệm “nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” được sử dụng phổ biến từ những năm 80 của thế kỷ trước, đây là bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi căn bản và toàn diện về cách nhìn nhận vai trò của con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: con người với tư cách là nguồn lực, là động lực của sự phát triển Trong lý thuyết phát triển và theo nghĩa rộng NNL được hiểu là nguồn lực con người (Human resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ/địa phương, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế lấy con người làm trung tâm, cho rằng: Con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững thậm chí con người được coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển - vốn nhân lực.
Với quan niệm này cho thấy cách tiếp cận con người là một nguồn vốn quan trọng trong phát triển của một quốc gia và một tổ chức. Liên hiệp quốc lại tiếp cận NNL thiên về mặt chất lượng, xem xét vai trò, sức mạnh của NNL đối với sự phát triển xã hội: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” (Viện chiến lược phát triển, 2008). Phạm Minh Hạc cho rằng: NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”(Phạm Minh Hạc, 2001). 5 Như vậy, xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có những khái niệm khác nhau về NNL nhưng nhìn chung đều thống nhất về nội dung cơ bản là: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, một tổ chức.
Xét về mặt số lượng, đó là toàn bộ những người lao động đang có khả năng và là những người sẽ tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội.