Tổng quan luận án

Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2015, cả nước có khoảng 9,5 triệu người cao tuổi, chiếm 10,4% dân số; dự báo đến năm 2030 tỷ lệ này sẽ tăng lên 18% và đến năm 2050 vượt ngưỡng 30% (UN, 2015). Đáng chú ý, tốc độ già hóa không có sự chênh lệch lớn giữa các vùng sinh thái khi tỷ lệ người cao tuổi ở khu vực nông thôn đạt 11,1% so với thành thị là 11,3% vào năm 2012 (VNAS, 2012). Tại thành phố Hà Nội, người cao tuổi chiếm 10,5% dân số với quy mô trên 800.000 người. Tốc độ già hóa nhanh đặt ra áp lực lớn đối với hạ tầng cơ sở và hệ thống an sinh xã hội. Phần lớn người cao tuổi Việt Nam hiện nay không có tích lũy vật chất, 70% vẫn phải tiếp tục lao động tự kiếm sống, đồng thời gánh chịu gánh nặng bệnh tật kép với thời gian ốm đau trung bình lên tới 14 năm trong tổng số 73 năm tuổi thọ (Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ, 2009). Trong bối cảnh đó, hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi của Nhà nước còn bộc lộ nhiều hạn chế, trong khi sự tham gia của các tổ chức tư nhân và thị trường còn rất khiêm tốn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây về người cao tuổi tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận dưới góc độ y học lâm sàng hoặc phân tích chính sách xã hội vĩ mô một cách chung chung. Chưa có nhiều công trình xã hội học đi sâu khảo sát thực chứng mối quan hệ tương tác giữa chủ thể cung cấp dịch vụ (Nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp thị trường) và đối tượng thụ hưởng (người cao tuổi), đặc biệt là việc đo lường tính sẵn có, khả năng tiếp cận và mức độ hài lòng của người cao tuổi trên cả ba phương diện: đời sống vật chất, chăm sóc sức khỏe thể chất và đời sống văn hóa tinh thần tại hai khu vực nội thành và ngoại thành.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án:

  • Mục đích tổng quát: Tìm hiểu một số loại hình dịch vụ xã hội cơ bản đang được cung cấp cho người cao tuổi và vai trò của các chủ thể cung cấp dịch vụ; từ đó đề xuất các khuyến nghị khoa học đối với các cơ quan quản lý và các đơn vị cung ứng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản phù hợp với người cao tuổi; thao tác hóa các khái niệm công cụ và xác lập khung phân tích xã hội học.
    2. Khảo sát thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ xã hội của người cao tuổi tại Hà Nội; đánh giá mức độ hài lòng của người cao tuổi trên các khía cạnh: trợ giúp đời sống vật chất, chăm sóc sức khỏe thể chất, nâng cao đời sống tinh thần và các dịch vụ xã hội khác.
    3. Tìm hiểu nhu cầu thực tế của người cao tuổi và đánh giá vai trò của các chủ thể cung ứng dịch vụ xã hội (khu vực công lập và khu vực thị trường).
    4. Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị định hướng phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội trợ giúp người cao tuổi trong giai đoạn tiếp theo.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng sử dụng dịch vụ xã hội cho người cao tuổi Hà Nội hiện nay như thế nào và mức độ hài lòng của người cao tuổi trên các khía cạnh (chăm sóc đời sống vật chất, chăm sóc sức khỏe thể chất, đời sống tinh thần và dịch vụ xã hội khác) ra sao?
  2. Nhu cầu sử dụng dịch vụ xã hội của người cao tuổi như thế nào và các nhà cung cấp dịch vụ xã hội có vai trò gì trong việc đáp ứng những nhu cầu đó?
  3. Xu hướng phát triển các dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi như thế nào trong giai đoạn tới?

Giả thuyết nghiên cứu:

  1. Các dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi khá đa dạng nhưng mức độ tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội còn hạn chế.
  2. Người cao tuổi chưa hài lòng đối với các dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi trên các khía cạnh (chăm sóc đời sống vật chất, chăm sóc sức khỏe thể chất, đời sống tinh thần và dịch vụ xã hội khác).
  3. Người cao tuổi có nhu cầu được hỗ trợ về kinh tế, chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống tinh thần. Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu trên. Bên cạnh đó, các nhà cung cấp dịch vụ xã hội theo cơ chế thị trường chưa phát huy được vai trò của mình trong việc đáp ứng các nhu cầu của người cao tuổi.
  4. Xu hướng phát triển dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi theo hướng tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo của Nhà nước đồng thời tăng cường sự tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ theo cơ chế thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi hiện nay.
  • Khách thể nghiên cứu: Người cao tuổi từ đủ 60 tuổi trở lên, còn minh mẫn, có khả năng giao tiếp trực tiếp, cư trú ổn định từ 2 năm trở lên tại địa bàn khảo sát; cán bộ y tế cơ sở (bác sĩ, y sĩ, y tá); cán bộ quản lý chính quyền cơ sở (Phó Chủ tịch UBND phụ trách văn xã, cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đại diện Hội Người cao tuổi) và chủ doanh nghiệp sử dụng lao động cao tuổi.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 2 địa bàn đặc trưng của thành phố Hà Nội: xã Kim Nỗ (huyện Đông Anh, đại diện khu vực nông thôn ngoại thành) và phường Nhân Chính (quận Thanh Xuân, đại diện khu vực đô thị nội thành).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập tư liệu và khảo sát thực địa trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016.
  • Phạm vi nội dung: Giới hạn nghiên cứu ở ba nhóm dịch vụ xã hội cốt lõi gồm trợ giúp đời sống vật chất (việc làm, ổn định thu nhập qua BHXH, trợ cấp xã hội, cấp thẻ BHYT, quà tặng); chăm sóc sức khỏe thể chất (khám chữa bệnh tại cơ sở y tế và chăm sóc y tế dự phòng tại cộng đồng); nâng cao đời sống tinh thần và dịch vụ công cộng khác (văn hóa, thể thao, thông tin truyền thông, giảm giá vé tham gia giao thông và công trình công cộng).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng tiếp cận chuyên biệt:

Hướng 1: Các nghiên cứu về dịch vụ trợ giúp đời sống vật chất cho người cao tuổi. Trên thế giới, nghiên cứu của Forssmans (1962) đã sớm chỉ ra các rào cản khi lôi kéo người cao tuổi tham gia thị trường lao động như vấn đề thù lao thấp và sự suy giảm thể lực trước áp lực cạnh tranh. Nghiên cứu của Yonatan Ben-Shalom và cộng sự (2012) tại Hoa Kỳ chứng minh các chương trình phúc lợi công có tác động kéo giảm tỷ lệ nghèo từ 29% xuống 13,5% vào năm 2004, trong đó nhóm người cao tuổi và khuyết tật được hưởng lợi nhiều nhất. Christopher Garroway (2013) khi đánh giá Đề án Trợ giúp Xã hội Quốc gia (NSAP) tại Ấn Độ đã chỉ ra trợ cấp tuổi già và lương hưu góa phụ giúp giảm 2,7 điểm nghèo đói cho đối tượng thụ hưởng. Về khía cạnh bảo hiểm, David Dranove (1993) ghi nhận bệnh nhân lựa chọn bảo hiểm tư nhân (58,5%) cao hơn bảo hiểm chính phủ (43,6%) do chất lượng dịch vụ chi trả. Tại Việt Nam, từ thập niên 1980 đã có các khảo sát về người nghỉ hưu nội thành Hà Nội (1983) và báo cáo nghiên cứu lao động tuổi già của UNESCAP (1989). Tác giả Bùi Thế Cường (1999, 2002) chỉ ra có tới 55,7% người nghỉ hưu tại Đồng bằng sông Hồng phải tiếp tục làm thêm vì lương hưu không đủ sống. John Knodel và Trương Sĩ Ánh (2000), Friedman và cộng sự (2002) phân tích sự phụ thuộc kinh tế của phụ nữ cao tuổi đơn thân. Hoàng Mộc Lan (2010, 2015) ghi nhận trên 50% người nghỉ hưu Hà Nội duy trì làm việc do nhu cầu kinh tế và giao tiếp xã hội. Giang Thanh Long và Bùi Thế Cường (2010) đánh giá tác động của việc sử dụng lao động cao tuổi đến sự bền vững tài chính của quỹ an sinh. Đàm Hữu Đắc (2010), Nguyễn Thế Huệ (2010), Vụ Dân số - KHHGĐ (2011, 2012), Điều tra Quốc gia Người cao tuổi Việt Nam (VNAS/NVAS, 2012) và Báo cáo ILO - UNFPA (2014) đều phản ánh nguồn thu của người già chủ yếu dựa vào gia đình hoặc tự làm việc; chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đạt độ bao phủ cao ở nhóm trên 80 tuổi (63% tại Hà Nội) nhưng bỏ trống tới 70% người thuộc độ tuổi 60-79. Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA, 2011, 2015), Phạm Đình Thành (2014), Trịnh Duy Luân (2016) và HelpAge International (2015) đều chỉ ra mức trợ cấp 270.000 đồng và 405.000 đồng theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP còn quá thấp so với chi phí sinh hoạt tối thiểu.

Hướng 2: Các nghiên cứu về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Báo cáo của các cơ quan Liên Hợp Quốc (2011) nhấn mạnh rào cản tiếp cận y tế chất lượng của người cao tuổi. Yutaka Kajiwara (2014) phân tích mô hình chăm sóc y tế người già tại Nhật Bản với quy định tự chi trả 10% (trên 75 tuổi) và 20% (70-74 tuổi). Annette L. Fitzpatrick và cộng sự (2015) phân tích các rào cản cơ sở vật chất y tế tại Mỹ. Tại Việt Nam, Phạm Khuê (1977) khảo sát dịch tễ học trên 13.300 người cao tuổi miền Bắc; Đàm Viết Cương và cộng sự (2006, 2009) chỉ ra người già chủ yếu mắc các bệnh mãn tính không lây và có thói quen tự mua thuốc điều trị. VNAS (2012) ghi nhận hơn 50% người cao tuổi có sức khỏe yếu và 51% không đủ tiền chi trả dịch vụ y tế. Hoàng Trung Kiên (2014) và Trần Văn Hưởng (2012) thử nghiệm các mô hình can thiệp sức khỏe tại trạm y tế cơ sở nhằm giảm tải bệnh viện. Về sự hài lòng của người bệnh, các mô hình của Parasuraman và cộng sự (1985), Donabedian (1996), Williams và Calnan (1991), WHO (2000), Mahjouz A. (Ả Rập Xê Út), Phạm Nhật Yên (2008 tại Bệnh viện Bạch Mai), Tăng Thị Lưu (2011 tại Đà Nẵng), Phạm Xuân Lan và Phùng Thị Hồng Thắm (2011 tại TP.HCM) đều khẳng định chất lượng kỹ thuật, thái độ nhân viên y tế và thời gian chờ đợi quyết định mức độ hài lòng. Về khả năng tiếp cận y tế, Adam và cộng sự (1991), Tai và cộng sự (2004), Alimatou Cisse (2011), Lương Sơn Bá (2000), Đào Văn Dũng (1997), Nguyễn Quý Thanh (2001) chứng minh khoảng cách, thời gian chờ, viện phí không chính thức và quyền lợi BHYT là những biến số quyết định hành vi lựa chọn tuyến y tế.

Hướng 3: Các nghiên cứu về dịch vụ nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và thông tin. Knowles (1985), Ross (1988), M. Dưxkin (1984), Martin Pinquart và Robert C. Atchley nghiên cứu về sự thu hẹp mạng lưới gia đình và tình trạng cô đơn của người già. Tại Việt Nam, Nguyễn Phương Lan (2000), Đặng Vũ Cảnh Linh (2009) chỉ ra hơn 80% người già giải trí qua truyền hình, đài báo; 60,6% sinh hoạt Hội Người cao tuổi nhưng rất ít tham gia du lịch. Báo cáo của Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam (VNCA, 2007) và UNFPA (2011) ghi nhận chỉ 16% người già tham gia câu lạc bộ văn hóa thể thao, đồng thời có sự phân hóa sâu sắc về khả năng tiếp cận thông tin theo vùng miền và trình độ học vấn.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án khắc phục hạn chế của các công trình trước bằng việc: (1) Thao tác hóa khái niệm dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi dưới góc độ xã hội học thực nghiệm; (2) So sánh trực tiếp giữa một địa bàn thuần nông (Kim Nỗ) và một địa bàn đô thị hóa cao (Nhân Chính); (3) Đưa vào khung phân tích biến số so sánh mức độ hài lòng khi khám bệnh có sử dụng BHYT và không sử dụng BHYT; (4) Khảo sát vai trò của các tổ chức cung ứng dịch vụ theo cơ chế thị trường và đánh giá tính khả thi của các trung tâm chăm sóc người cao tuổi tư nhân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở nhận thức thông qua việc định nghĩa và thao tác hóa các khái niệm công cụ:

  • Dịch vụ xã hội: Hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển của cá nhân và cộng đồng, không vì mục tiêu lợi nhuận thuần túy, hướng đến việc đảm bảo các giá trị, chuẩn mực và phúc lợi xã hội (ILSSA & GIZ, 2011; Trần Hậu và Đoàn Minh Huấn, 2012).
  • Dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi: Các dịch vụ đặc thù nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm phù hợp, ổn định thu nhập, chăm sóc sức khỏe thể chất, nâng cao đời sống tinh thần và tạo điều kiện hòa nhập xã hội cho người cao tuổi.
  • Chăm sóc sức khỏe: Tiếp cận theo định nghĩa của WHO (1946) và Hoàng Bá Thịnh (2010), phân chia thành 3 cấp độ: y tế ban đầu tại trạm y tế xã/phường; y tế tuyến quận/huyện; và y tế chuyên sâu tuyến tỉnh/thành phố, trung ương.
  • Chính sách xã hội và trợ giúp xã hội: Vận dụng quan điểm của Bùi Đình Thanh (1993) và khung pháp lý Nghị định 136/2013/NĐ-CP, phân chia thành nhóm chính sách hỗ trợ phổ quát không điều kiện (ưu đãi giao thông, mừng thọ) và chính sách có điều kiện (lương hưu, trợ cấp xã hội thường xuyên bằng tiền mặt, cấp thẻ BHYT miễn phí).
  • Sự hài lòng: Tiếp cận theo Oliver (1993), Kotler và Keller (2006) kết hợp thang đo Likert 5 mức độ (Rất hài lòng, Hài lòng, Bình thường, Không hài lòng, Rất không hài lòng) để lượng hóa mức độ đáp ứng dịch vụ so với kỳ vọng của người cao tuổi.

Khung lý thuyết vận dụng trong luận án:

  1. Lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons (cấu trúc - vai trò): Luận án nhìn nhận hệ thống dịch vụ xã hội trợ giúp người cao tuổi là một cấu trúc hoàn chỉnh bao gồm các phân hệ tương tác: Nhà nước (chính quyền địa phương, cơ sở y tế công), thị trường (doanh nghiệp tư nhân, nhà cung cấp dịch vụ), tổ chức xã hội (Hội Người cao tuổi) và gia đình. Lý thuyết này được dùng để phân tích sự phối hợp và thực thi chức năng vai trò của từng chủ thể trong việc phân phối nguồn lực trợ giúp.
  2. Lý thuyết lựa chọn hợp lý (Rational Choice Theory): Giải thích hành vi của người cao tuổi khi đứng trước các quyết định sử dụng dịch vụ y tế, việc làm hay giải trí. Người cao tuổi cân nhắc giữa chi phí bỏ ra (tiền bạc, thời gian chờ đợi, khoảng cách địa lý, sự bất tiện thủ tục) và lợi ích nhận lại (hiệu quả khám chữa bệnh, sự tôn trọng, phục hồi sức khỏe) để đưa ra hành vi tối ưu (chọn y tế công hay tư, đi khám vượt tuyến hay tự mua thuốc).
  3. Lý thuyết nhu cầu (Need Theory): Sử dụng để phân loại các tầng bậc nhu cầu sinh học, nhu cầu an toàn kinh tế, nhu cầu chăm sóc y tế và nhu cầu giao tiếp xã hội của người cao tuổi, làm căn cứ so sánh với mức độ đáp ứng của các gói dịch vụ xã hội hiện hành.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Phân tích các văn bản luật pháp (Luật Người cao tuổi 2009, Nghị định 136/2013/NĐ-CP), số liệu điều tra dân số của Tổng cục Thống kê, báo cáo thường niên của Hội Người cao tuổi thành phố Hà Nội và hồ sơ quản lý trợ cấp tại hai địa bàn nghiên cứu.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn theo bảng hỏi (định lượng): Khảo sát người cao tuổi tại xã Kim Nỗ (Đông Anh) và phường Nhân Chính (Thanh Xuân) theo mẫu cấu trúc. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê để phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm và chạy các bảng tương quan chéo (crosstab) giữa nhóm tuổi, giới tính, khu vực cư trú với mức độ tiếp cận và sự hài lòng.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu (định tính): Phỏng vấn bán cấu trúc đối với lãnh đạo UBND phường/xã phụ trách văn hóa - xã hội, cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đại diện Hội Người cao tuổi, y bác sĩ tại trạm y tế cơ sở và một số người cao tuổi tiêu biểu tại địa bàn.
  • Nguồn tư liệu: Kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo quốc tế (UN, ILO, UNFPA), cơ quan trung ương (Bộ Y tế, Bộ LĐ-TB&XH) và nguồn dữ liệu sơ cấp điều tra trực tiếp tại hiện trường trong giai đoạn 2012-2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tập trung hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến dịch vụ xã hội cho người cao tuổi theo ba cụm vấn đề: dịch vụ trợ giúp đời sống vật chất, dịch vụ chăm sóc sức khỏe thể chất và dịch vụ nâng cao đời sống tinh thần. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu quốc tế đã tiếp cận toàn diện từ chính sách phúc lợi đến tâm lý học tuổi già, trong khi nghiên cứu tại Việt Nam còn phân mảnh. Chương 1 làm rõ khoảng trống nghiên cứu và khẳng định tính cần thiết của việc triển khai đề tài tại thành phố Hà Nội dưới góc nhìn xã hội học.

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 hoàn thiện hệ thống khái niệm công cụ, xây dựng khung phân tích liên kết giữa bối cảnh kinh tế - xã hội, chủ thể cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ. Tác giả luận giải việc áp dụng ba lý thuyết nền tảng (lý thuyết hệ thống xã hội của Parsons, lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết nhu cầu). Đồng thời, chương này mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu (phường Nhân Chính và xã Kim Nỗ), quy trình thiết kế công cụ đo lường và các phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu định lượng và định tính.

Chương 3: Thực trạng sử dụng dịch vụ xã hội của người cao tuổi Hà Nội

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm về tình hình tiếp cận và mức độ hài lòng của người cao tuổi đối với các nhóm dịch vụ xã hội:

  • Dịch vụ trợ giúp đời sống vật chất: Nguồn thu nhập của người cao tuổi phân hóa sâu sắc theo khu vực sống. Người cao tuổi tại phường Nhân Chính chủ yếu sống dựa vào lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, trong khi tại xã Kim Nỗ, phần lớn người cao tuổi vẫn phải trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, buôn bán nhỏ hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào con cái. Về chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP, việc chi trả đạt tỷ lệ bao phủ tốt ở nhóm trên 80 tuổi không có lương hưu (hệ số 1, mức 270.000 đồng/tháng) và người cao tuổi thuộc hộ nghèo không nơi nương tựa (hệ số 1,5, mức 405.000 đồng/tháng). Tuy nhiên, 100% người được phỏng vấn cho rằng mức trợ cấp này quá thấp so với chi phí sinh hoạt thực tế, chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ tiêu vặt hoặc ăn sáng. Tỷ lệ có thẻ BHYT ở nhóm dưới 80 tuổi không có lương hưu tại nông thôn còn thấp do khó khăn kinh tế.
Chiều cạnh khảo sát Khu vực nội thành (Phường Nhân Chính) Khu vực ngoại thành (Xã Kim Nỗ)
Nguồn thu nhập chủ yếu Lương hưu, trợ cấp BHXH, hỗ trợ từ con cháu Tự lao động nông nghiệp, trợ cấp xã hội, con cái phụng dưỡng
Tình trạng tham gia lao động Chủ yếu lao động trí óc, buôn bán dịch vụ nhỏ hoặc nghỉ ngơi Tỷ lệ lao động chân tay cao, tiếp tục làm nông nghiệp
Tỷ lệ bao phủ BHYT Cao (nhờ diện hưu trí và tự nguyện mua) Trung bình (phụ thuộc vào diện chính sách và hỗ trợ bảo trợ)
Mức độ hài lòng với trợ cấp Thấp (do chi phí sinh hoạt đô thị đắt đỏ) Thấp (khoản trợ cấp không đủ trang trải nhu cầu cơ bản)
  • Dịch vụ chăm sóc sức khỏe: Bệnh tật phổ biến ở người cao tuổi tại cả hai địa bàn là các bệnh mãn tính (tăng huyết áp, tim mạch, thoái hóa khớp, đái tháo đường). Khả năng đáp ứng của trạm y tế xã/phường rất hạn chế: thiếu bác sĩ chuyên khoa lão, danh mục thuốc BHYT nghèo nàn, trang thiết bị chẩn đoán sơ sài. Do đó, người cao tuổi có xu hướng vượt tuyến lên bệnh viện tuyến trên hoặc lựa chọn phòng khám tư nhân khi gặp bệnh cấp tính. Đánh giá sự hài lòng cho thấy sự cách biệt rõ rệt: người cao tuổi khám dịch vụ tự chi trả có mức độ hài lòng cao hơn đáng kể so với khám theo diện BHYT do giảm thiểu thời gian chờ đợi và nhận được thái độ phục vụ chu đáo hơn từ nhân viên y tế. Công tác tuyên truyền, tư vấn dinh dưỡng và khám sức khỏe định kỳ tại cộng đồng còn rất thưa thớt, mang tính hình thức.
  • Dịch vụ nâng cao đời sống tinh thần và dịch vụ khác: Kênh tiếp nhận thông tin chủ yếu là truyền hình và hệ thống loa truyền thanh cơ sở. Hoạt động mừng thọ, chúc thọ được tổ chức trang trọng và đem lại sự hài lòng cao. Tuy nhiên, việc tham gia các câu lạc bộ thể dục thể thao, văn nghệ chủ yếu diễn ra tự phát ở nhóm người cao tuổi có sức khỏe tốt tại nội thành. Chính sách giảm giá vé xe buýt và miễn phí tham quan công trình công cộng đạt hiệu quả sử dụng rất thấp do hạ tầng giao thông tiếp cận chưa thân thiện với người già (bậc lên xuống xe buýt cao, sang đường nguy hiểm).

Chương 4: Mong muốn sử dụng dịch vụ xã hội của người cao tuổi và vai trò của các chủ thể trong việc cung cấp dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi

Chương này tập trung phân tích nhu cầu và vị trí của các chủ thể cung ứng:

  • Nhu cầu của người cao tuổi: Nguyện vọng bức thiết nhất là được nâng mức trợ cấp tiền mặt hàng tháng và hạ độ tuổi hưởng trợ cấp xã hội xuống dưới 80 tuổi; được cấp thẻ BHYT miễn phí cho toàn bộ người cao tuổi; mong muốn trạm y tế cơ sở định kỳ tổ chức khám, phát thuốc tại nhà cho người già yếu, khó vận động; có không gian sinh hoạt văn hóa riêng biệt tại khu dân cư.
  • Vai trò của các chủ thể:
    • Khu vực công (Nhà nước, chính quyền cơ sở, trạm y tế): Giữ vai trò bảo trợ chủ đạo nhưng đang chịu áp lực quá tải ngân sách và nhân lực, thiếu các dịch vụ chăm sóc chuyên sâu. Hội Người cao tuổi phát huy tốt vai trò tập hợp hội viên, thăm hỏi ốm đau nhưng nguồn kinh phí hoạt động phụ thuộc vào hội phí tự đóng góp.
    • Khu vực thị trường: Các cơ sở y tế tư nhân, trung tâm chăm sóc ban ngày và viện dưỡng lão tư nhân đã xuất hiện nhưng mức phí dịch vụ vượt quá khả năng tài chính của đại đa số người cao tuổi. Doanh nghiệp hầu như chưa mặn mà đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ cho người cao tuổi do thời gian thu hồi vốn chậm và thiếu cơ chế ưu đãi từ Nhà nước.
  • Định hướng và giải pháp: Đẩy mạnh đa dạng hóa các gói dịch vụ xã hội, kết hợp giữa ngân sách công trợ cấp cho nhóm yếu thế và chính sách khuyến khích xã hội hóa, kêu gọi tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi theo cơ chế thị trường có sự kiểm soát của Nhà nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm "dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi" dưới lăng kính xã hội học, phân biệt rõ với khái niệm dịch vụ an sinh xã hội nói chung.
  • Xây dựng thành công khung phân tích và hệ thống chỉ báo thực nghiệm nhằm đo lường tính sẵn có, khả năng tiếp cận và sự hài lòng của người cao tuổi đối với ba nhóm dịch vụ xã hội cốt lõi.
  • Vận dụng phối hợp lý thuyết hệ thống cấu trúc - vai trò của Talcott Parsons, lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết nhu cầu để lý giải bản chất hành vi và sự tương tác giữa nhà cung cấp dịch vụ và đối tượng người cao tuổi tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp nguồn cứ liệu thực nghiệm cập nhật, so sánh đối chứng trực tiếp giữa địa bàn nội thành (phường Nhân Chính) và ngoại thành (xã Kim Nỗ) về điều kiện sống, nguồn thu nhập và tình trạng bệnh tật của người cao tuổi.
  • Bổ sung phát hiện mới về sự chênh lệch trong mức độ hài lòng của người cao tuổi khi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh có BHYT và không sử dụng BHYT tại các cơ sở y tế công lập.
  • Chỉ ra những điểm nghẽn của hệ thống y tế cơ sở và sự bất cập của định mức trợ cấp tiền mặt 270.000 đồng/tháng theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP đối với việc duy trì mức sống tối thiểu.
  • Phân tích thực trạng và tiềm năng của các mô hình cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi theo cơ chế thị trường, làm căn cứ thực tiễn cho việc xây dựng chính sách hợp tác công - tư trong an sinh xã hội.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Nhóm giải pháp đối với dịch vụ do Nhà nước cung cấp: Nâng dần mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng và nghiên cứu hạ độ tuổi hưởng trợ cấp cho người cao tuổi không có lương hưu từ 80 tuổi xuống các nhóm tuổi thấp hơn; mở rộng diện cấp thẻ BHYT miễn phí; tăng cường đầu tư trang thiết bị, bổ sung danh mục thuốc BHYT và đào tạo bác sĩ chuyên khoa lão cho trạm y tế xã/phường; định kỳ tổ chức khám sức khỏe và quản lý bệnh mãn tính tại cộng đồng.
  • Nhóm giải pháp đối với dịch vụ theo cơ chế thị trường: Xây dựng hành lang pháp lý và chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng để khuyến khích các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp thành lập các trung tâm chăm sóc người cao tuổi ban ngày, nhà dưỡng lão tư nhân; đa dạng hóa các gói bảo hiểm sức khỏe thương mại phù hợp với mức thu nhập của người cao tuổi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi địa bàn khảo sát thực địa chỉ giới hạn tại 2 đơn vị hành chính cấp xã/phường thuộc thành phố Hà Nội (xã Kim Nỗ và phường Nhân Chính), do đó tính khái quát cho toàn bộ các vùng nông thôn thuần nông vùng sâu vùng xa hoặc các đô thị đặc thù khác trên cả nước còn hạn chế.
  • Nguồn lực nghiên cứu chưa cho phép thực hiện khảo sát dọc (longitudinal study) qua nhiều năm để theo dõi sự chuyển biến trong mức độ hài lòng khi các văn bản chính sách mới được điều chỉnh ban hành.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát liên tỉnh và liên vùng sinh thái nhằm so sánh sự khác biệt văn hóa - xã hội trong tiếp cận dịch vụ an sinh của người cao tuổi giữa các vùng miền.
  • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về mô hình kinh tế chăm sóc (care economy) và đánh giá chi tiết tính khả thi tài chính của hệ thống viện dưỡng lão tư nhân tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi từ già hóa sang dân số già (2030 - 2050).

Giá trị tham khảo

Giá trị đối với các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách: Là tài liệu tham khảo thực chứng cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam trong quá trình sửa đổi Luật Người cao tuổi, điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp xã hội và cải tiến quy trình khám chữa bệnh BHYT.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu xã hội học an sinh, khung thao tác hóa biến số đo lường sự hài lòng và công cụ bảng hỏi khảo sát người cao tuổi trong các chuyên ngành Xã hội học, Công tác xã hội và Quản lý công.
  • Cán bộ quản lý cơ sở và tổ chức xã hội: Giúp UBND các xã/phường và Hội Người cao tuổi nhận diện rõ những thiếu hụt của trạm y tế cơ sở và nhu cầu đời sống tinh thần của hội viên để thiết kế các hoạt động cộng đồng phù hợp.

Các phần nội dung đáng tham khảo nhất:

  • Khung phân tích và hệ thống chỉ báo đo lường sự hài lòng tại Chương 2.
  • Các số liệu thực nghiệm so sánh mức độ hài lòng giữa khám bệnh có BHYT và không BHYT tại Chương 3.
  • Hệ thống giải pháp kết hợp giữa dịch vụ công và dịch vụ thị trường tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án vận dụng những lý thuyết xã hội học nào để nghiên cứu dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi? Luận án vận dụng ba lý thuyết chính gồm: Lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons (phân tích cấu trúc vai trò của Nhà nước, gia đình, thị trường và đoàn thể); Lý thuyết lựa chọn hợp lý (giải thích hành vi lựa chọn cơ sở y tế và dịch vụ dựa trên so sánh chi phí - lợi ích của người già); và Lý thuyết nhu cầu (phân loại và đánh giá mức độ đáp ứng các tầng bậc nhu cầu vật chất, y tế, tinh thần).

  2. Mức độ hài lòng của người cao tuổi đối với dịch vụ khám chữa bệnh có BHYT và không có BHYT tại Hà Nội khác biệt ra sao? Khảo sát thực chứng tại Chương 3 chỉ ra rằng người cao tuổi khám dịch vụ tự chi trả (không dùng BHYT) có mức độ hài lòng cao hơn rõ rệt về thái độ tiếp đón của y bác sĩ và thời gian chờ đợi. Ngược lại, người khám theo diện BHYT bày tỏ sự chưa hài lòng do quy trình thủ tục hành chính chuyển tuyến phức tạp, thời gian chờ khám lâu và danh mục thuốc BHYT tại tuyến cơ sở còn nghèo nàn.

  3. Chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP phát huy hiệu quả thực tế như thế nào trên địa bàn khảo sát? Chính sách đạt độ bao phủ cao ở nhóm người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu (hưởng mức 270.000 đồng/tháng) và người cao tuổi nghèo đơn thân (mức 405.000 đồng/tháng), mang ý nghĩa động viên tinh thần lớn. Tuy nhiên, 100% người được khảo sát khẳng định mức tiền này quá thấp so với thời giá sinh hoạt thực tế, chỉ đủ chi trả các nhu cầu vặt hàng ngày mà không thể bảo đảm đời sống vật chất tối thiểu.

  4. Những rào cản nào khiến trạm y tế xã/phường chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi? Trạm y tế cơ sở tại xã Kim Nỗ và phường Nhân Chính gặp phải các rào cản lớn: thiếu bác sĩ có chuyên môn sâu về bệnh học tuổi già; cơ sở vật chất và trang thiết bị chẩn đoán cận lâm sàng còn nghèo nàn; danh mục thuốc điều trị bệnh mãn tính theo BHYT bị giới hạn, dẫn đến việc người cao tuổi buộc phải vượt tuyến lên bệnh viện tuyến trên hoặc tự mua thuốc tại hiệu thuốc tư nhân.

  5. Luận án đề xuất định hướng phát triển dịch vụ xã hội theo cơ chế thị trường như thế nào? Luận án đề xuất Nhà nước cần ban hành chính sách khuyến khích khu vực tư nhân thông qua ưu đãi thuế, hỗ trợ mặt bằng đất đai và tín dụng để phát triển các mô hình trung tâm dưỡng lão, câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe ban ngày có thu phí hợp lý, từng bước chia sẻ gánh nặng ngân sách với hệ thống an sinh công lập.

Kết luận

Luận án của tác giả Mai Tuyết Hạnh đã làm sáng tỏ thực trạng cung cấp và sử dụng các dịch vụ xã hội trợ giúp cho người cao tuổi tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2012 - 2016 thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết xã hội học và khảo sát thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu khẳng định hệ thống dịch vụ công hiện hành mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu cơ bản, trong khi mức trợ cấp tiền mặt và năng lực y tế cơ sở còn bộc lộ nhiều khoảng trống cần khắc phục. Luận án nhấn mạnh xu hướng tất yếu trong tương lai là duy trì vai trò bảo trợ nòng cốt của Nhà nước đối với các nhóm yếu thế, đồng thời tạo cơ chế thuận lợi để kinh tế thị trường tham gia cung ứng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi một cách đa dạng và bền vững.