MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Những năm gần đây ở nước ta dòng người di cư từ nông thôn ra các thành phố lớn diễn ra ngày càng mạnh mẽ, với tốc độ tăng nhanh, quy mô ngày một lớn. Đây là một vấn đề mang tính xã hội, bởi nó có tác động không nhỏ đến mỗi gia đình và cộng đồng, nhất là sự biến đổi cấu trúc gia đình do sự di cư của thế hệ giữa ra các thành phố lớn sinh sống và làm việc, các gia đình ở nông thôn trong tình trạng khuyết thế hệ, chức năng và vai trò của gia đình không được đảm bảo do có những biến đổi lớn. Đối với các thành phố lớn nơi tiếp nhận dòng người nhập cư vào, hiện nay đang phải đối mặt với các vấn đề khó khăn lớn như: những xáo trộn về đời sống xã hội, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, tệ nạn xã hội, cơ sở hạ tầng không đáp ứng được do mật độ dân cư đông.
Trong số các vấn đề đó thì một vấn đề đang được quan tâm hiện nay đó là việc chăm sóc sức khỏe cho đối tượng là những người dân di cư ở khu vực thành thị, bởi nhiều trẻ em, người già, thậm chí người trong độ tuổi lao động trong các gia đình nhập cư vào thành thị chưa được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Chính vì vậy, sức khỏe của nhóm dân cư này có sự khác biệt nhất định so với các nhóm dân cư khác. Làn sóng di cư diễn ra mạnh ở các tỉnh thành trên cả nước tới các thành phố lớn như: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
Hà Nội là thành phố lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đây là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nhất cả nước,do vậy hàng năm lực lượng dân số ở các tỉnh khác di cư về chiếm tỷ lệ khá cao. Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 của Tổng cục Thống kê cho thấy, dân số Hà Nội là 6.837 người (chiếm khoảng 7,5% dân số cả nước); trong khi đó tỷ lệ nhập cư về Hà Nội trung bình khoảng 100. Như vậy, mỗi năm qui mô dân số Hà Nội dự kiến tăng thêm tương đương với dân số của một huyện lớn. Năm 2009, mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.926 người/km2, cao gấp 7,4 lần so với cả nước và mật độ này có chiều hướng tăng cao do dòng người nhập cư hàng năm đang tăng lên; qui mô và tốc độ của lượng người di dân vào Hà Nội qua các năm ngày càng tăng, cụ thể năm 2001 số người di cư vào Hà Nội là 16.985 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người thì đến năm 2007 là 46.240 người và con số đó đã là 52.588 người vào năm 2011.
Như vậy, xu thế chung trong những năm tới là số lượng người lao động ngoại tỉnh di cư vào Hà Nội vẫn tăng lên một cách nhanh chóng. Hiện tượng này, nếu không có sự quản lý, điều tiết sẽ gây ra những vấn đề phức tạp trong đời sống kinh tế - xã hội cho Hà Nội trong những năm tới. Bên cạnh đó, có nhiều vấn đề nảy sinh từ nhóm dân di cư này, số lượng người di cư chưa được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chiếm tỷ lệ khá cao. Nguyên nhân chủ yếu là do họ chịu nhiều ảnh hưởng của tình trạng thiếu việc làm, thu nhập bấp bênh, trong khi giá cả lương thực, thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác vẫn ở mức cao.
Từ những khó khăn về điều kiện sống và môi trường ô nhiễm kéo theo những vấn đề về sức khỏe của những người di cư tới các đô thị lớn. Trước tình hình khó khăn của nền kinh tế lan rộng, thì khó khăn của nhóm dân số di cư càng thêm chồng chất, từ đó làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội từ nhóm dân cư này. Trong những nghiên cứu, điều tra gần đây cho thấy vấn đề nổi trội ở nhóm dân di cư khu vực nông thôn đến các khu vực thành thị đó là vấn đề chăm sóc sức khỏe của người dân di cư còn chưa được đảm bảo do chất lượng cuộc sống, tình trạng thu nhập, mức sống còn thấp; đây cũng là nguyên nhân khiến cho tình trạng sức khỏe, bệnh tật, tuổi thọ của nhóm dân cư này suy giảm so với các nhóm dân cư khác. Do vậy, việc nghiên về vấn đề chăm sóc sức khỏe ở nhóm những người dân di cư là một đòi hỏi vừa mang tính cấp thiết, về cơ bản vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Do đó tôi chọn đề tài: “Các yếu tố tác động đến việc chăm sóc sức khỏe của người di cư qua nghiên cứu trường hợp phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội” để nghiên cứu. Từ việc nghiên cứu, đề tài này sẽ cung cấp những cơ sở, những luận cứ khoa học quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn, mang đến cái nhìn cụ thể, sâu sắc về thực trạng sức khỏe và hoạt động chăm sóc sức khỏe của nhóm dân số di cư; nghiên cứu cũng chỉ ra những ảnh hưởng và các yếu tố tác động tới hoạt động chăm sóc sức khỏe của nhóm dân số di cư tại địa bàn nghiên cứu. Từ đó, đưa ra các kết luận, đề xuất các kiến nghị - giải pháp, góp phần phát huy tốt hiệu quả của công tác chăm sóc sức khỏe cho nhóm dân cư này, nhằm nâng 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao sức khỏe, chất lượng sống, điều kiện sống cho nhóm dân số di cư, giúp họ có điều kiện tiếp cận với các quyền và lợi ích hợp pháp trong chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh trong đời sống hằng ngày. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2.
Tổng quan nghiên cứu về vấn đề chăm sóc sức khỏe người dân di cư trên thế giới Hiện nay, nhiều nghiên cứu được công bố đã phân tích mối quan hệ giữa di cư với tình trạng sức khoẻ, tỷ lệ tử vong, khả năng nhiễm bệnh, nguy cơ nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Kết quả chỉ ra rằng, một mặt, sức khoẻ có thể là động lực hoặc có thể là trở ngại đối với di cư thông qua các tác động trực tiếp và gián tiếp đến quyết định di cư. Mặt khác, quá trình di cư cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ của cá nhân và cộng đồng, ở nhiều mức độ (Soskolne and Shtarkshall, 2002). Do tác động của sức khoẻ đến di cư mang ý nghĩa kinh tế - xã hội ít và ảnh hưởng này chỉ có thể nhận thấy thông qua các lý do di chuyển hay tính chọn lọc của di cư nên hầu hết các nghiên cứu kể trên đều tập trung vào tác động của di cư tới sức khoẻ [36].
Mặc dù hầu hết các công trình nghiên cứu tác động của di cư đến sức khoẻ chủ yếu nhằm vào mức sinh nhưng kết luận về quan hệ giữa di dân và mức sinh không thống nhất. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, mức sinh của những người di cư thấp hơn những người không di cư ở nơi đi và cao hơn những người sinh sống lâu dài ở nơi đến, tuy vậy, những nghiên cứu khác gần đây lại cho thấy những người di cư có mức sinh tương tự những người không di cư [34]. Trong nghiên cứu về một số vấn đề về di dân của Stephen Castles, nhà nghiên cứu Xã hội học làm việc tại Đại học Sydneynăm 2011, nghiên cứu đã chỉ rõ xu hướng di cư ngày càng đa dạng hóa, nghiên cứu đã chỉ rõ trong giai đoạn từ giữa thập kỷ những năm 90, tình trạng di cư quốc tế đang bùng nổ trên phạm vi toàn cầu và có nhiều sự thay đổi, mở rộng, đa dạng hóa các hình thức di cư, vấn đề di cư và sự đa dạng hóa của nó trong bối cảnh di cư xuyên quốc gia. Trong nghiên cứu này Stephen Castles cũng chỉ rõ được thực trạng chăm sóc sức khỏe ở nhóm người di cư chưa được đảm bảo, họ chưa được tiếp cận với các chính sách về y tế và việc làm, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính vì vậy chất lượng sống và điều kiện sống của họ còn rất thấp, việc đáp ứng nhu cầu cho họ cần được quan tâm, cần đề ra các biện pháp nhằm giảm thiểu việc di cư tự do, hướng tới việc ổn định dân cư ở các khu vực [37].
Tại các nước đang phát triển, trẻ sơ sinh của những phụ nữ di cư từ nông thôn có ít cơ hội sống sót hơn so với trẻ sinh ở thành thị. Nghiên cứu về tỷ lệ tử vong của trẻ em di cư của tác giả Mazharul 2005, ở Bangladesh cho thấy mức chết của trẻ em dưới 5 tuổi di cư từ nông thôn cao gấp 1,6 lần so với trẻ sinh ra và lớn lên ở thành thị. Trong những tranh luận gần đây về di cư và HIV/AIDS, người ta quan tâm đặc biệt đến những quá trình đưa đẩy người di cư vào các điều kiện có thể dẫn đến các hànhvi nguy cơ cao và lây nhiễm HIV (Xiushi Yang et al, Archana K. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề chăm sóc sức khỏe người dân di cư tại Việt Nam Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu về di cư đã được tiến hành, tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu nhằm xác định nguyên nhân di cư, đặc trưng cơ bản của người di cư, việc làm và thu nhập của họ.
Chỉ có rất ít một số nghiên cứu về quan hệ giữa sức khoẻ và di cư được tiến hành ở Việt Nam nhưng hầu hết được nghiên cứu trên mẫu nhỏ và điều này gây khó khăn cho việc phân tích toàn diện mối quan hệ này. Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu về di cư đã được tiến hành (Tống Văn Đường,1995; Doãn Mậu Diệp và các tác giả, 1996; Đỗ Văn Hoà, 1998; Vũ Thị Hồng và các tác giả, 2003; Nguyễn Thị Thiềng, Patrick Gubryetal, 2004; Đặng Nguyên Anh, 2005). Tuy vậy, các nghiên cứu này chủ yếu nhằm xác định nguyên nhân di cư, đặc trưng cơ bản của người di cư, việc làm và thu nhập của họ. Một số nghiên cứu đã bắt đầu đề cập đến mối quan hệ giữa di cư với mức sinh và KHHGĐ (Viện Kinh tế Tp.
HCM, 1992; Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động, 1993). Nói chung, các nghiên cứu trên đã đưa ra kết luận sơ bộ là những người di cư bất lợi hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ (P. Gubry, Nguyễn Thị Thiềng và các tác giả, 2004). Trên thực tế, việc nhiều người di 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.