CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 BỐI CẢNH CHỌN ĐỀ TÀI 1.1 Bối cảnh thực tiễn Trong vòng 10 năm, từ 1999 đến 2009, tỉ lệ dân số nước ta đã tăng 11,3 % (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011). Trong khi đó, chỉ trong vòng 5 năm, từ 2004 đến 2009, số người di cư nội địa đã tăng hơn 50%, với khoảng 7 triệu người di cư nội địa trong khoảng thời gian này, so với 4,5 triệu người trong giai đoạn 1994 – 1999. Bức tranh tổng quát về di cư theo vùng được thể hiện qua bảng 1.1 cho thấy xu hướng tăng giảm không ổn định. Giai đoạn 1994-1999 cường độ di cư là thấp nhất với 1.334 nghìn người, tỷ suất di cư là 19 người di cư/1000 dân.
Giai đoạn 2004-2009 chứng kiến sự gia tăng mạnh, lên đến 2.361 nghìn người, tương ứng với tỷ suất di cư là 30 người/1000 dân, sau đó là sự giảm sút trong giai đoạn 2009-2014, còn 21 người di cư/1000 dân. Số người và tỷ suất di cư qua các giai đoạn Loại hình Số người di cư Số người không di cư Tỷ suất di cư di cư (Nghìn người) (Nghìn người) (Phần nghìn) 1994- 2004- 2009- 1994- 2004- 2009- 1994- 2004- 2009- 1999 2009 2014 1999 2009 2014 1999 2009 2014 Di cư giữa 1.507 19 30 21 các vùng Nguồn: Tổng cục thống kê (2015) Nguyên nhân giải thích cho xu hướng gia tăng di cư trong giai đoạn 2004- 2009 là thời kỳ các khu công nghiệp, chế xuất được xây dựng ở nhiều nơi trên cả nước với nhịp độ cao. Những cơ sở sản xuất này cần lao động có tay nghề đến làm việc. Vì vậy, trong thời kỳ này người dân di chuyển ồ ạt tới các thành phố, đô thị tìm kiếm việc làm để mưu sinh.
Đây cũng là hiện tượng thường gặp ở các nước đang phát triển. Trong khi đó, giai đoạn 2009-2014 là thời kỳ nền kinh tế thế giới gặp khủng hoảng, xuất phát từ thị trường bất động sản dưới chuẩn của Mỹ, và cuộc khủng hoảng 2 nợ công Châu Âu 2010-2011, làm ảnh hưởng đến kinh tế của các nước, trong đó có Việt Nam. Cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 cho thấy khoảng 80% số người di cư chọn các thành phố miền Nam là địa điểm đến và phần lớn nơi ra đi của họ là những vùng có tỉ lệ dân nông thôn cao (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011). Gần đây, kết quả cuộc điều tra di cư nội địa 2015 tiếp tục khẳng định xu hướng di cư đến những thành thị lớn của người dân.HCM, tỷ lệ di cư chiếm 20,7% trong nhóm dân số 15-59 tuổi (Tổng cục thống kê & Quỹ dân số Liên hợp quốc, 2016) TP.HCM là một trong những trung tâm kinh tế- hành chính quan trọng và phát triển nhất ở Việt Nam.
Kinh tế TP.HCM luôn tăng trưởng với tốc độ cao hơn bình quân cả nước kể từ công cuộc Đổi Mới được khởi xướng năm 1986. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 4,2% giai đoạn 1986 – 1990 tăng lên 12,6% trong giai đoạn 1991 – 1995. Những năm 1996 – 2000, do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân có giảm so với giai đoạn trước nhưng vẫn nằm ở mức cao, 10,2%. Giai đoạn từ 2001 đến nay, tăng trưởng GDP của thành phố vẫn giữ vững ở mức khá cao, trung bình hơn 9,5%/năm.
Đi kèm với tốc độ tăng trưởng kinh tế là tốc độ tăng trưởng dân số. Trong suốt giai đoạn gần 30 năm (1986 – 2015), tốc độ tăng trưởng dân số của TP.HCM luôn có xu hướng gia tăng mặc dù mức tăng không đều theo thời gian. Tăng trưởng GDP và dân số tại TP.HCM giai đoạn 1986-2015 Thời kỳ Tăng trưởng GDP bình quân (%) Tỉ lệ tăng dân số bình quân (%) 1986 - 1990 4,20 2,13 1991 - 1995 12,6 2,41 1996 - 2000 10,2 2,21 2001 - 2005 11 3,43 2006 - 2010 11,2 4,1 2011 - 2015 9,60 2,3 Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê TP.HCM 3 Trong những năm gần đây, sự gia tăng dân số tại TP.HCM chủ yếu là do gia tăng cơ học. Tỷ suất nhập cư đến TP.HCM qua các năm luôn cao hơn tỷ suất xuất cư.3 cho thấy tỉ suất di cư thuần tại TP.HCM giai đoạn 2010- 2015 luôn luôn dương Bảng 1.
Tỉ suất nhập-xuất cư tại TP.HCM giai đoạn 2010-2015 Tỷ lệ tăng dân Tỷ suất nhập Tỷ suất xuất Tỷ suất di cư số (%) cư (%o) cư (%o) thuần (%o) 2010 2,09 26,2 7,8 18,4 2012 2,16 14,8 7,2 7,6 2013 2,08 16,5 10,3 6,2 2014 2,07 16,9 11,4 5,5 2015 2,06 10,4 5,7 4,7 Nguồn: Tổng Cục thống kê (2017) Di cư là hiện tượng xã hội phổ biến và tất yếu trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Các nghiên cứu về di cư đều đánh giá cao những đóng góp tích cực của di cư trong việc gia tăng cơ hội tiến thân cho bản thân và gia đình người di cư, từ đó góp phần giảm nghèo và phát triển, thúc đẩy quá trình đô thị hóa, giải quyết bài toán về quan hệ cung-cầu lao động và việc làm (Nguyễn Đình Long & Nguyễn Thị Minh Phượng, 2013). Nhìn chung, sự thành công của người di cư có tác động tích cực đến nền kinh tế nơi họ đến vì giá trị mà họ đóng góp cho xã hội lớn hơn giá trị mà xã hội phải chi cho họ. Riêng tại TP.HCM, lao động di cư đóng góp 30% GDP (Lê Văn Sơn, 2014).
Tuy nhiên, di cư cũng là một trong những nguyên nhân gây nên việc biến động mạnh về dân số, môi trường và sinh thái, tạo áp lực cho sự phát triển bền vững. Di cư đem lại những tác động tiêu cực cho nơi người di cư chuyển đến như áp lực đối với an ninh, trật tự đô thị, quá tải về cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng (Lê Bạch Dương & Nguyễn Thanh Liêm, 2011). Đối với nơi xuất cư, tình trạng mất cân đối cục bộ về lao động gây khó khăn cho kinh tế địa phương (Nguyễn Đình Long & Nguyễn Thị Minh Phượng, 2013). Bản thân cá nhân và hộ gia đình của người di cư cũng gặp phải 4 những phát sinh chi phí kinh tế và xã hội đáng kể do phải tách rời khỏi gia đình, quê hương và hoàn cảnh sống quen thuộc (Đặng Nguyên Anh & Nguyễn Thanh Liêm, 2006) và đối đầu với nhiều nguy cơ, đặc biệt là nguy cơ về sức khỏe, cả thể chất lẫn tinh thần (Le, 2013) Các nghiên cứu về di cư cho thấy di cư gắn liền với các vấn đề về sức khỏe như “căng thẳng” (stress), “trầm cảm” (depression), “sử dụng chất kích thích” (substance use), bệnh tim mạch, hành vi tình dục có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và việc lây nhiễm HIV (Chen, và những tác giả khác, 2011).
Zhang, Chow, Jahn, Krämer, & Wilson (2013) đã tiến hành lược khảo hệ thống và phân tích tổng hợp (meta-analysis) 54 nghiên cứu về việc lây nhiễm HIV ở Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy 53,4% bệnh nhân bị nhiễm HIV là người di cư và di cư nội địa đã góp phần đáng kể vào việc lan truyền HIV tại Trung Quốc. Tương tự, Setia, Lynch, Abrahamowicz, Tousignant, & Quesnel-Vallee (2011) đã phát hiện người người dân di cư luôn có sức khoẻ tự đánh giá kém hơn người dân tại địa phương, đặc biệt là những người xuất cư từ các nước có chỉ số phát triển thấp khi sử dụng mô hình logit với bộ dữ liệu khảo sát người di cư đến Canada trong giai đoạn 2001-2005. Nhìn chung, so với người dân tại địa phương, người di cư có sức khoẻ kém hơn mặc dù có bằng chứng cho thấy khi bắt đầu di cư, người di cư thường có sức khoẻ tốt do quá trình tự sàng lọc tích cực (Domnich, Panatto, Gasparini, & Amicizia (2012).
Cuộc điều tra về sức khoẻ tự đánh giá của người di cư Việt Nam được thực hiện vào năm 2015 là minh chứng cho điều này. Người di cư có xu hướng đánh giá sức khoẻ tốt hơn người không di cư. Số liệu tại Bảng 1.4 cho thấy tại thành thị, tỷ lệ người di cư tự đánh giá sức khoẻ ở mức "Khoẻ" trở lên là 38,5%, trong khi tỷ lệ này ở người không di cư chỉ ở mức 27,3%. Tại nông thôn, có 32,5% người di cư tự đánh giá sức khoẻ ở mức "Khoẻ" trở lên, cao hơn 8,4 điểm phần trăm so với tỷ lệ người không di cư.HCM, số người di cư và không di cư đánh giá sức khoẻ từ "Khoẻ" trở lên chiếm tỷ lệ lần lượt là 32,6% và 24%.
Sức khoẻ tự đánh giá của người di cư và không di cư Đơn vị: % Tự đánh giá tình trạng sức khoẻ Tổng Rất Khoẻ Bình Yếu Rất Không Số khoẻ thường yếu biết lượng (người) Thành thị Không di cư 100 1,6 25,7 59,4 12,9 0,5 0,0 1.989 Di cư 100 3,5 35,0 56,3 5,0 0,1 0,0 337 Nông thôn Không di cư 100 2,4 21,7 58,3 16,5 1,2 0,0 1.HCM Không di cư 100 2,0 22,0 59,0 17,0 0,0 0,0 300 Di cư 100 2,8 29,8 57,0 10,0 0,4 0,0 500 Nguồn: Tổng Cục thống kê & Quỹ dân số Liên hợp quốc (2016). Theo (Le, 2013), mặc dù khi mới di cư, sức khỏe của người di cư được đánh giá là tốt hơn người không di cư. Tuy nhiên, sức khoẻ của họ suy giảm theo thời gian nhiều hơn so với người không di cư do họ phải đối đầu với nhiều yếu tố bất lợi cho sức khỏe tại nơi di cư đến như điều kiện sống và làm việc tồi tệ, không an toàn, không có bảo hiểm sức khỏe, thu nhập thấp và không thường xuyên, những thói quen làm tổn hại đến sức khỏe như hút thuốc, uống rượu, v. Ngoài ra, việc hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế, thiếu kiến thức về sức khỏe cũng là nguyên nhân khiến sức khỏe của người di cư dễ bị tổn thương hơn (Lê Bạch Dương & Nguyễn Thanh Liêm, 2011).
Nghiên cứu của Lê Bạch Dương & Khuất Thu Hồng (2008) cho thấy người di cư đến thành thị thường không được hưởng bất cứ cơ chế bảo trợ sức khoẻ nào. Hơn nữa, có rất ít chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được thiết kế riêng cho nhóm đối tượng này. 6 Đặc biệt, nghiên cứu về người di cư từ nông thôn đến thành thị cho thấy so với cư dân thành thị, người di cư gặp phải nhiều khó khăn về các vấn đề sức khỏe sinh lý, tâm lý, tình cảm, chức năng, kiến thức về sức khỏe tổng quát (Van Landingham, 2003; Lê Bạch Dương & Nguyễn Thanh Liêm, 2011). Hậu quả trước mắt của vấn đề này là năng suất lao động kém.