Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Vốn xã hội và sức khoẻ của lao động di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (chuyên ngành Kinh tế Phát triển, mã số 62310105, bảo vệ năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hữu Dũng và PGS. Nguyễn Văn Phúc) tiếp cận mối quan hệ giữa các nguồn lực xã hội và tình trạng sức khỏe của nhóm lao động nhập cư.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Di cư nội địa tại Việt Nam là một hiện tượng kinh tế - xã hội quy mô lớn. Giai đoạn 2004–2009 ghi nhận 2.361 nghìn người di cư giữa các vùng (tỷ suất 30‰), và giai đoạn 2009–2014 là 1.507 nghìn người (tỷ suất 21‰). Tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) – trung tâm kinh tế đóng góp mức tăng trưởng GDP bình quân 9,60%–12,6% trong các giai đoạn từ 1991 đến 2015 – lao động di cư đóng góp khoảng 30% GDP (Lê Văn Sơn, 2014). Tỷ suất di cư thuần tại TP.HCM trong giai đoạn 2010–2015 luôn ở mức dương (từ 4,7‰ đến 18,4‰).
Mặc dù khảo sát năm 2015 cho thấy người di cư có tỷ lệ tự đánh giá sức khỏe từ mức "Khỏe" trở lên cao hơn người không di cư (tại TP.HCM là 32,6% so với 24,0%; tại đô thị nói chung là 38,5% so với 27,3%) do quá trình tự sàng lọc ban đầu, sức khỏe của người lao động di cư có xu hướng suy giảm nhanh sau một thời gian sinh sống do điều kiện làm việc bất lợi, thiếu bảo hiểm y tế, thu nhập bấp bênh và rào cản tiếp cận dịch vụ y tế công (Le, 2013; Lê Bạch Dương & Nguyễn Thanh Liêm, 2011).
Về mặt lý thuyết, vốn xã hội được xem là nguồn lực có thể hỗ trợ cải thiện sức khỏe. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước trước đây thường chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ của vốn xã hội hoặc sức khỏe, dẫn đến những phát hiện mâu thuẫn. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là thiếu một mô hình đo lường đa chiều, phản ánh thứ bậc quan trọng của các thành phần vốn xã hội phù hợp với bối cảnh văn hóa - xã hội Việt Nam, cũng như thiếu các phân tích định lượng về cơ chế tác động trực tiếp, gián tiếp và vai trò trung gian của từng loại vốn xã hội đối với các chiều cạnh sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội của người lao động di cư.
| Giai đoạn |
Số người di cư (nghìn người) |
Tỷ suất di cư (‰) |
Tăng trưởng GDP bình quân TP.HCM (%) |
Tỷ lệ tăng dân số bình quân TP.HCM (%) |
| 1986–1990 |
- |
- |
4,20 |
2,13 |
| 1991–1995 |
- |
- |
12,60 |
2,41 |
| 1994–1999 |
1.334 |
19,0 |
- |
- |
| 1996–2000 |
- |
- |
10,20 |
2,21 |
| 2001–2005 |
- |
- |
11,00 |
3,43 |
| 2004–2009 |
2.361 |
30,0 |
- |
- |
| 2006–2010 |
- |
- |
11,20 |
4,10 |
| 2009–2014 |
1.507 |
21,0 |
- |
- |
| 2011–2015 |
- |
- |
9,60 |
2,30 |
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định ba mục tiêu cụ thể:
- Áp dụng phương pháp Delphi và quy trình phân tích thứ bậc (AHP) để xây dựng mô hình đo lường vốn xã hội của người lao động di cư đến TP.HCM.
- Tìm hiểu vai trò của từng loại vốn xã hội đối với từng khía cạnh sức khỏe của người lao động di cư đến TP.HCM.
- Đề xuất chính sách cải thiện sức khỏe của lao động di cư đến TP.HCM.
Câu hỏi nghiên cứu
- Mô hình đo lường vốn xã hội của người lao động di cư đến TP.HCM bao gồm các loại vốn xã hội nào với thứ bậc quan trọng ra sao?
- Vai trò của từng loại vốn xã hội đối với các khía cạnh khác nhau của sức khỏe của lao động di cư đến TP.HCM như thế nào?
- Giải pháp nào cho việc cải thiện sức khỏe của lao động di cư đến TP.HCM?
Giả thuyết nghiên cứu
- Các loại vốn xã hội có tác động trực tiếp đến các khía cạnh sức khỏe của người lao động di cư đến TP.HCM.
- Các loại vốn xã hội có tác động gián tiếp đến các khía cạnh sức khỏe của người lao động di cư thông qua việc tạo ra vốn vật chất, vốn con người và hành vi sức khỏe.
- Vốn xã hội giữ vai trò trung gian trong mối quan hệ tác động từ các đặc điểm cá nhân đến sức khỏe.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vốn xã hội và sức khỏe của người lao động di cư đến TP.HCM ở cấp độ cá nhân (vi mô).
- Khách thể nghiên cứu: Người lao động di cư thỏa mãn 3 tiêu chí: (i) trong độ tuổi lao động từ 18 đến 55 tuổi; (ii) sinh sống, làm việc hoặc tìm kiếm việc làm tại TP.HCM từ trên 6 tháng đến 10 năm; (iii) nơi sinh ra và lớn lên (giai đoạn 0 đến dưới 18 tuổi) không thuộc TP.HCM.
- Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát dữ liệu sơ cấp thực địa tại các quận, huyện tập trung đông lao động di cư trên địa bàn TP.HCM từ tháng 9/2015 đến tháng 1/2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Luận án tiến hành phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vốn xã hội, di cư và sức khỏe:
- Hướng nghiên cứu về vai trò tích cực của vốn xã hội: Bắt đầu từ nghiên cứu của Durkheim (1897) về sự hội nhập xã hội và tỷ lệ tự tử, Putnam (2000) khẳng định vai trò trọng yếu của vốn xã hội đối với sức khỏe. Các nghiên cứu thực nghiệm chứng minh vốn xã hội làm giảm tỷ lệ tử vong (Lochner và cộng sự, 2003), cải thiện sức khỏe tinh thần và giảm trầm cảm (Hamano và cộng sự, 2010; Lin, Ye, & Ensel, 1999; Takenoshita, 2015; Wu và cộng sự, 2016), giảm suy giảm trí nhớ (Fratiglioni và cộng sự, 2000), cải thiện sức khỏe tự đánh giá (Kim, You, & Cho, 2013; Rocco, Fumagalli, & Suhrcke, 2014), cũng như định hình các hành vi lối sống lành mạnh (Kawachi và cộng sự, 1997, 1999; Poortinga, 2006b; Folland, 2005; Danso, 2014; Deri, 2005). Nghiên cứu đa quốc gia của Rocco & Suhrcke (2012) tại 14 nước châu Âu và Kim, You, & Cho (2013) tại 5 quốc gia (Hàn Quốc, Đức, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ) cho thấy tác động dương của vốn xã hội cá nhân đến tình trạng sức khỏe.
- Hướng nghiên cứu ghi nhận kết quả không đồng nhất hoặc tác động tiêu cực: Rose (2000) không tìm thấy mối liên hệ giữa việc gia nhập tổ chức với sức khỏe tại Nga; Bush & Baum (2001) chỉ ra việc tham gia hội nhóm có tác động tích cực nhưng hoạt động công dân không có ý nghĩa đối với sức khỏe; Campbell, Wood, & Kelly (1999) nhận thấy chỉ có mạng lưới không chính thức mang lại tác động tích cực. Đáng chú ý, Wolf và cộng sự (2010) phát hiện vốn xã hội gắn bó làm trầm trọng thêm tác động tiêu cực của các đợt nắng nóng đối với người cao tuổi tại Anh do mạng lưới khép kín không nhận thức được nguy cơ. Đánh giá tổng quan của Choi và cộng sự (2014) trên các cơ sở dữ liệu Medline, Embase, PsycInfo chỉ ra bằng chứng thực nghiệm còn phân mảnh do thiếu sự nhất quán trong công cụ đo lường vốn xã hội.
- Nghiên cứu về vốn xã hội và sức khỏe tại Việt Nam: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào nhóm trẻ em (Harpham, De Silva, & Tuan, 2006), người khuyết tật (Takahashi và cộng sự, 2011), hoặc phụ nữ (Thuy & Berry, 2013). Các nghiên cứu về sức khỏe di cư tập trung vào mô tả thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế và sức khỏe tổng quát (Van Landingham, 2003; Đặng Nguyên Anh & Nguyễn Thanh Liêm, 2006; Lê Bạch Dương & Khuất Thu Hồng, 2008; Le, 2013; Duong, Linh, & Thao, 2016).
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án xử lý ba khoảng trống chính: (1) Khắc phục sự thiếu thống nhất trong việc đo lường vốn xã hội bằng cách tích hợp cả hai khía cạnh cấu trúc và tri nhận, đồng thời xác định trọng số thứ bậc của các thành phần trong bối cảnh Việt Nam; (2) Đo lường sức khỏe đa chiều theo 8 khía cạnh thay vì một chỉ báo đơn lẻ; (3) Kiểm định cơ chế tác động trực tiếp, gián tiếp (qua vốn con người, vốn vật chất, thói quen ăn uống) và vai trò trung gian của vốn xã hội đối với lao động di cư nội địa tại TP.HCM.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm và lý thuyết vốn xã hội: Luận án tổng hợp các trường phái lý thuyết từ Hanifan (1916), Bourdieu (1986), Coleman (1988), Putnam (1993, 1995, 2000), Fukuyama (1995, 1999), Lin (1999), Portes (2000) và Dasgupta (2005). Luận án phân định vốn xã hội thành:
- Vốn xã hội cấu trúc (Structural social capital): Bao gồm mạng lưới chính thức và phi chính thức, được phân loại theo chức năng thành 4 dạng: mạng lưới gắn bó (bonding networks), mạng lưới bắc cầu (bridging networks), mạng lưới gắn bó - kết nối (bonding-linking networks), và mạng lưới bắc cầu - kết nối (bridging-linking networks).
- Vốn xã hội tri nhận (Cognitive social capital): Bao gồm chuẩn mực, trách nhiệm, kỳ vọng và niềm tin, cấu thành từ 2 dạng: lòng tin tổng quát (generalized trust) và lòng tin cụ thể (particularized trust).
- Khái niệm và thang đo sức khỏe: Dựa trên định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1948), luận án sử dụng bộ công cụ SF-36 phiên bản 2 (Ware & Sherbourne, 1992; Brazier, 1993; Maruish, 2011) gồm 8 khía cạnh: Chức năng thể chất (PF), Hạn chế do sức khỏe thể chất (RP), Đau cơ thể (BP), Sức khỏe chung (GH), Sinh lực (VT), Hạn chế do dễ xúc động (RE), Sức khỏe tinh thần (MH), và Hoạt động xã hội (SF). Thang đo được chuyển đổi sang thang điểm 11 mức (từ 0 đến 10) theo khuyến nghị của OECD (2013).
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (Định tính và phân tích thứ bậc):
- Kỹ thuật Delphi: Thực hiện qua 2 vòng với nhóm 12 chuyên gia đáp ứng 4 tiêu chuẩn (Skulmoski, Hartman, & Krahn, 2007) nhằm sàng lọc, điều chỉnh các chỉ báo và thang đo vốn xã hội cho phù hợp với thực tế Việt Nam.
- Phương pháp AHP (Analytic Hierarchy Process): Tiến hành ma trận so sánh cặp giữa các tiêu chí và chỉ báo để xác định trọng số, thứ tự ưu tiên của các thành phần trong cấu trúc đo lường vốn xã hội.
- Giai đoạn 2 (Định lượng cấu trúc):
- Mô hình PLS-SEM (Partial Least Squares Structural Equation Modeling): Sử dụng phương pháp mô hình phương trình cấu trúc dựa trên phương sai (VB-SEM) nhằm đánh giá đồng thời mô hình đo lường (độ tin cậy thang đo, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt) và kiểm định mô hình cấu trúc đường dẫn (ước lượng hệ số tác động, giá trị p-value ở mức ý nghĩa 5%, hệ số xác định $R^2$, và redundancy trung bình).
Nguồn dữ liệu và mẫu nghiên cứu
- Mẫu chuyên gia Delphi: 12 chuyên gia về vốn xã hội và phát triển cộng đồng.
- Mẫu khảo sát định lượng: 400 lao động di cư tại các quận, huyện tập trung đông dân nhập cư nhất tại TP.HCM (như Bình Tân, Bình Thạnh, Tân Phú, Gò Vấp, Quận 12, Thủ Đức...), thu thập từ tháng 9/2015 đến tháng 1/2016 bằng bảng hỏi cấu trúc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể: phân tích bối cảnh gia tăng di cư cơ học tại TP.HCM trong mối liên hệ với tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1986–2015; nêu bật nghịch lý sức khỏe của người lao động di cư; xác định 3 mục tiêu nghiên cứu, 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 nhóm giả thuyết; xác định phạm vi đối tượng vi mô (lao động 18–55 tuổi, cư trú 6 tháng đến 10 năm tại TP.HCM); tóm tắt quy trình phương pháp kết hợp Delphi, AHP và PLS-SEM; trình bày ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích về mối liên hệ giữa vốn xã hội và sức khoẻ của lao động di cư đến TP.HCM
Chương 2 thực hiện tổng quan hệ thống:
- Phân định các định nghĩa lao động di cư, sức khỏe cá nhân (chuẩn hóa theo WHO và bộ SF-36 v2) và vốn xã hội.
- Phân tích 4 trường phái tiếp cận vốn xã hội: quan điểm cộng đồng (communitarian view), quan điểm mạng lưới (networks view), quan điểm thể chế (institutional view), và quan điểm tương hỗ (synergy view).
- Phân loại vốn xã hội theo cấu trúc (mạng lưới gắn bó, bắc cầu, liên kết) và tri nhận (lòng tin cụ thể, lòng tin tổng quát).
- Xây dựng khung phân tích cơ chế tác động của vốn xã hội đến 8 chiều cạnh sức khỏe qua các biến trung gian (vốn con người, vốn vật chất, thói quen ăn uống lành mạnh, khám sức khỏe, bảo hiểm y tế).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình triển khai:
- Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp 2 giai đoạn.
- Chi tiết hóa quy trình 2 vòng của kỹ thuật Delphi với 12 chuyên gia và thuật toán ma trận so sánh cặp AHP (tính toán tỷ số nhất quán CR).
- Xây dựng chiến lược phân tích đường dẫn với mô hình PLS-SEM (lý do chọn PLS-SEM thay vì CB-SEM do cấu trúc phức tạp và tính chất kết hợp của biến tiềm ẩn).
- Trình bày phương pháp chọn mẫu phân tầng theo địa bàn tập trung dân di cư tại TP.HCM với quy mô $N = 400$, đạt tiêu chuẩn công suất thống kê 80%.
Chương 4: Áp dụng phương pháp Delphi và AHP để xây dựng mô hình đo lường vốn xã hội trong bối cảnh Việt Nam
Chương 4 công bố kết quả phân tích đa tiêu chí:
- Kỹ thuật Delphi xác lập danh mục các biến quan sát cấu thành thang đo vốn xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- Kết quả mô hình AHP xác định trọng số tổng thể: khía cạnh Mạng lưới đạt trọng số 0,502 và khía cạnh Lòng tin đạt trọng số 0,497.
- Phân rã trọng số thành phần:
- Vốn xã hội cấu trúc: Mạng lưới gắn bó giữ vị trí quan trọng nhất với trọng số 0,688; tiếp theo là Mạng lưới bắc cầu (0,244); Mạng lưới bắc cầu - kết nối (0,093); Mạng lưới gắn bó - kết nối (0,049).
- Vốn xã hội tri nhận: Lòng tin cụ thể chiếm trọng số 0,523; Lòng tin tổng quát chiếm trọng số 0,476.
| Khía cạnh vốn xã hội |
Thành phần cấu thành |
Trọng số AHP |
Thứ tự ưu tiên |
| Cấu trúc (Trọng số: 0,502) |
Mạng lưới gắn bó (bonding) |
0,688 |
1 |
|
Mạng lưới bắc cầu (bridging) |
0,244 |
2 |
|
Mạng lưới bắc cầu - kết nối (bridging-linking) |
0,093 |
3 |
|
Mạng lưới gắn bó - kết nối (bonding-linking) |
0,049 |
4 |
| Tri nhận (Trọng số: 0,497) |
Lòng tin cụ thể (particularized trust) |
0,523 |
1 |
|
Lòng tin tổng quát (generalized trust) |
0,476 |
2 |
Chương 5: Vốn xã hội và sức khoẻ của lao động di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 5 trình bày kết quả ước lượng thực nghiệm mô hình PLS-SEM trên mẫu $N = 400$:
- Thống kê mô tả các đặc điểm nhân khẩu, các chiều cạnh sức khỏe SF-36, các thang đo mạng lưới và lòng tin, cùng thói quen ăn uống, khám sức khỏe và bảo hiểm y tế.
- Kiểm định mô hình đo lường: hệ số tải ngoài, độ tin cậy tổng hợp, phương sai trích trung bình (AVE) và ma trận hệ số tải chéo đều đạt tiêu chuẩn thống kê ở mức ý nghĩa 5%.
- Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc:
- Mạng lưới bắc cầu - kết nối: Tác động dương trực tiếp đến Sức khỏe chung (GH). Đồng thời tác động gián tiếp giúp củng cố Vốn con người, từ đó thúc đẩy Thói quen ăn uống lành mạnh và cải thiện Sức khỏe tinh thần (MH).
- Lòng tin tổng quát: Tác động dương trực tiếp đến các khía cạnh Sức khỏe chung (GH), Chức năng thể chất (PF), Sinh lực (VT) và Hoạt động xã hội (SF).
- Mạng lưới bắc cầu: Tác động dương có ý nghĩa đến Sức khỏe chung (GH), Chức năng thể chất (PF) và Hoạt động xã hội (SF).
- Lòng tin cụ thể: Có tác động âm có ý nghĩa thống kê (ở mức 5%) đối với Chức năng thể chất (PF), Hoạt động xã hội (SF) và Đau cơ thể (BP).
Chương 6: Kết quả nghiên cứu và gợi ý chính sách
Chương 6 tổng hợp các kết luận chính từ Delphi, AHP và PLS-SEM; đề xuất 2 nhóm khuyến nghị chính sách: (1) Gia tăng sự kết nối các mối quan hệ xã hội/cộng đồng; (2) Xây dựng môi trường thể chế và thiết chế cho sự phát triển các kết nối xã hội/cộng đồng; nêu bật 3 đóng góp khoa học chính, đồng thời chỉ rõ các hạn chế nghiên cứu và định hướng các đề tài tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về lý luận và học thuật
- Bổ sung nguồn lực vốn xã hội vào phân tích kinh tế vi mô về sức khỏe: Luận án xem xét vốn xã hội như một dạng vốn thứ tư (bên cạnh vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người) tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng sức khỏe cá nhân, mở ra hướng tiếp cận kinh tế học vi mô về sự khác biệt sức khỏe của nhóm yếu thế.
- Xây dựng chỉ số đo lường tổng hợp đa bậc cho bối cảnh Việt Nam: Kết hợp phương pháp định tính Delphi và thuật toán AHP để định lượng hóa và sắp xếp thứ bậc ưu tiên của các thành tố cấu thành vốn xã hội. Nghiên cứu chỉ ra rằng ở Việt Nam, mạng lưới gắn bó (0,688) và lòng tin cụ thể (0,523) vẫn chiếm ưu thế vượt trội so với các mối liên kết bắc cầu và lòng tin tổng quát.
- Làm rõ cơ chế tác động đa chiều của từng loại vốn xã hội: Phân tích chi tiết tác động của từng loại vốn xã hội cấu trúc và tri nhận lên 8 khía cạnh sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của vốn xã hội: trong khi mạng lưới bắc cầu, bắc cầu - kết nối và lòng tin tổng quát mang lại tác động tích cực diện rộng, thì lòng tin cụ thể (quá gắn chặt vào nhóm nhỏ quen thuộc) có thể tạo ra tác động tiêu cực đến chức năng thể chất (PF), hoạt động xã hội (SF) và mức độ đau cơ thể (BP).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Gia tăng sự kết nối các mối quan hệ xã hội/cộng đồng: Tạo điều kiện để người lao động di cư mở rộng mạng lưới bắc cầu và liên kết (với các tổ chức chính thức, đoàn thể, cơ quan chuyên môn) thay vì chỉ bó hẹp trong nhóm đồng hương, gia đình khép kín.
- Xây dựng môi trường phát triển các kết nối xã hội: Hoàn thiện cơ chế pháp lý, đơn giản hóa thủ tục hành chính về cư trú để tạo dựng lòng tin thể chế và lòng tin tổng quát; thiết lập các trung tâm hỗ trợ cộng đồng, các chương trình sinh hoạt văn hóa - thể thao tại khu công nghiệp, khu chế xuất nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất cho lao động di cư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi không gian và đối tượng: Nghiên cứu chỉ thực hiện trên địa bàn TP.HCM với mẫu cắt ngang ($N = 400$) gồm những người di cư nội địa trong độ tuổi 18–55 và có thời gian cư trú từ 6 tháng đến 10 năm. Kết quả chưa bao quát nhóm di cư quốc tế hoặc các địa phương tiếp nhận di cư khác.
- Dữ liệu cắt ngang (cross-sectional data): Dữ liệu thu thập tại một thời điểm (9/2015–1/2016) chưa cho phép theo dõi toàn diện sự thay đổi của vốn xã hội và sức khỏe theo thời gian (dữ liệu bảng - panel data).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu dạng dọc (longitudinal study) để theo dõi động thái thay đổi sức khỏe của lao động di cư sau mốc 10 năm; kiểm chứng thang đo vốn xã hội trên các nhóm đối tượng yếu thế khác và tại các vùng kinh tế trọng điểm khác của Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu định tính (Delphi), phân tích đa tiêu chí (AHP) và mô hình phương trình cấu trúc (PLS-SEM); là tài liệu tham khảo trong việc chuyển đổi thang đo SF-36 sang thang đo 11 mức (0–10) của OECD.
- Đối với giảng viên và chuyên gia kinh tế phát triển/xã hội học: Cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan lý thuyết về vốn xã hội (Bourdieu, Coleman, Putnam, Fukuyama, Lin, Dasgupta) và các bằng chứng thực nghiệm vi mô tại Việt Nam.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ thực chứng về thứ bậc của các chỉ báo vốn xã hội và cơ chế nâng cao sức khỏe lao động di cư thông qua việc phát triển mạng lưới bắc cầu, liên kết và xây dựng lòng tin xã hội, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định trọng số giữa khía cạnh mạng lưới và lòng tin trong vốn xã hội như thế nào?
Theo kết quả mô hình AHP tại Chương 4, vốn xã hội của người lao động di cư đến TP.HCM gồm hai khía cạnh có trọng số gần như tương đương: Mạng lưới chiếm trọng số 0,502 và Lòng tin chiếm trọng số 0,497.
2. Trong các loại mạng lưới xã hội, loại mạng lưới nào giữ vai trò quan trọng nhất theo đánh giá AHP?
Mạng lưới gắn bó (bonding networks) giữ vai trò quan trọng nhất với trọng số 0,688. Tiếp theo là Mạng lưới bắc cầu (0,244), Mạng lưới bắc cầu - kết nối (0,093), và thấp nhất là Mạng lưới gắn bó - kết nối (0,049).
3. Phương pháp PLS-SEM cho thấy loại vốn xã hội nào có tác động cải thiện sức khỏe toàn diện nhất?
Lòng tin tổng quát và Mạng lưới bắc cầu là hai thành tố đem lại nhiều tác động tích cực nhất. Lòng tin tổng quát cải thiện 4 khía cạnh: Sức khỏe chung (GH), Chức năng thể chất (PF), Sinh lực (VT) và Hoạt động xã hội (SF). Mạng lưới bắc cầu cải thiện 3 khía cạnh: GH, PF và SF.
4. Luận án phát hiện tác động tiêu cực nào của vốn xã hội đối với sức khỏe?
Mô hình cấu trúc chỉ ra rằng Lòng tin cụ thể (particularized trust) có tác động âm (-), có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, đối với 3 khía cạnh sức khỏe: Chức năng thể chất (PF), Hoạt động xã hội (SF) và Đau cơ thể (BP). Điều này phản ánh việc phụ thuộc quá mức vào các nhóm quen biết hẹp có thể gây áp lực tâm lý hoặc hạn chế tiếp cận thông tin y tế rộng rãi.
5. Khách thể nghiên cứu của luận án được chọn theo những tiêu chí cụ thể nào?
Khách thể nghiên cứu gồm 400 người lao động di cư đến TP.HCM thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chí: (i) Độ tuổi từ 18 đến 55 tuổi; (ii) Cư trú và làm việc tại TP.HCM từ trên 6 tháng đến 10 năm; (iii) Nơi sinh ra và lớn lên (từ 0 đến dưới 18 tuổi) ở ngoài địa bàn TP.HCM.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên là một công trình nghiên cứu kinh tế phát triển ứng dụng phương pháp hỗn hợp (Delphi, AHP và PLS-SEM) nhằm lượng hóa cấu trúc vốn xã hội và phân tích tác động của nó đến sức khỏe người lao động di cư tại TP.HCM. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sự vượt trội về trọng số của mạng lưới gắn bó (0,688) và lòng tin cụ thể (0,523) trong thực tế của người di cư, đồng thời chứng minh mạng lưới bắc cầu - kết nối và lòng tin tổng quát đóng vai trò chủ đạo trong việc cải thiện các chiều cạnh sức khỏe thể chất và tinh thần. Những phát hiện thực nghiệm này cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách an sinh, mở rộng mạng lưới hỗ trợ xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực di cư trong quá trình đô thị hóa tại Việt Nam.