Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Khái niệm về Thuốc: Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu d ng cho người nhằm Mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, Điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, Điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm (7). Thuốc kê đơn: Là thuốc khi cấp phát, bán lẻ và sử dụng phải có đơn thuốc, nếu sử dụng không theo đúng chỉ định của người kê đơn thì có thể nguy hiểm tới tính mạng, sức khỏe (7). Thuốc không kê đơn: Là thuốc khi cấp phát, bán lẻ và sử dụng không cần đơn thuốc thuộc Danh Mục thuốc không kê đơn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành (7).
Hạn dùng của thuốc: Là thời gian sử dụng ấn định cho thuốc mà sau thời hạn này thuốc không được phép sử dụng.Hạn dùng của thuốc được thể hiện bằng Khoảng thời gian tính từ ngày sản xuất đến ngày hết hạn hoặc thể hiện bằng ngày, tháng, năm hết hạn. Trường hợp hạn dùng chỉ thể hiện tháng, năm thì hạn d ng được tính đến ngày cuối cùng của tháng hết hạn Phản ứng có hại của thuốc: Là phản ứng không mong muốn, có hại đến sức khỏe, có thể xảy ra ở liều dùng bình thường. Kháng sinh: là những chất kháng khuẩn được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật, có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác (8). Kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng thuốc kháng sinh Kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng thuốc kháng sinh được tổng hợp lại từ các nghiên cứu, y văn đã xuất bản gần đây trên thế giới và Việt Nam, thông tin chi tiết được trình bày dưới đây.
Trên thế giới Kháng kháng sinh là một mối đe dọa đối với sức khỏe toàn cầu. Để nâng cao nhận thức của cộng đồng về kháng sinh và khuyến khích việc sử dụng thuốc kháng sinh một cách thận trọng là một trong những mục tiêu của Kế hoạch Hành động Quốc gia ở Nhật Bản. Một nghiên cứu trực tuyến trên toàn quốc đã được thực hiện để đánh giá kiến thức và nhận thức hiện có về kháng sinh ở Nhật Bản. Trong tổng số 3.390 5 người tham gia, khoảng một nửa đã d ng thuốc kháng sinh trong 12 tháng qua, và phần lớn trong số họ lấy thuốc kháng sinh từ các cơ sở chăm sóc sức khỏe cho bệnh cảm cúm thông thường.
Trong khi 11,7% người tham gia giữ lại thuốc kháng sinh còn lại, 23,6% trong số họ đã tự điều chỉnh liều lượng. Khoảng 10% người tham gia đã yêu cầu bác sĩ d ng thuốc kháng sinh và gần 30% trong số họ thích bác sĩ kê đơn thuốc kháng sinh khi bị cảm lạnh. Các nguồn thông tin phổ biến là tin tức truyền hình và báo chí. Tuy nhiên, khoảng 80% số người tham gia không biết rằng thuốc kháng sinh không diệt được vi rút và thuốc kháng sinh không có hiệu quả đối với cảm lạnh và cúm (9).
Việc sử dụng kháng sinh không phù hợp đã dẫn đến tình trạng kháng thuốc, một thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới. Nghiên cứu tại Malaysia nhằm tìm hiểu niềm tin, kiến thức và thực hành về việc sử dụng kháng sinh trong cộng đồng nói chung. Về niềm tin, 63,2% người được hỏi tin rằng thuốc kháng sinh sẽ giúp họ phục hồi nhanh hơn. Về kiến thức, 52,7% người được hỏi cho rằng thuốc kháng sinh có thể hoạt động trên các bệnh nhiễm vi rút một cách không phù hợp.
70% người được hỏi mong muốn bác sĩ kê đơn thuốc kháng sinh nếu bị các triệu chứng (10). Theo Saber Yezli và các cộng sự của mình trong nghiên cứu “Khảo sát về kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) liên quan đến việc sử dụng kháng sinh trong số những người tham gia họp mặt tập thể năm 2015”, cho biết các kết quả chính sau đây. Nghiên cứu được thực hiện trên 1476 người hành hương. Những quan niệm sai lầm về kháng sinh bao gồm: chữa được tất cả các bênh chữa bệnh cảm lạnh thông thường và cúm, được sư dụng để hạ sốt, không có tác dụng phụ (11).
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1091 người trưởng thành ≥18 tuổi) sống tại năm quận ở các khu vực ven đô của Thành phố Maputo. Trong số 1091 người tham gia, 20,9% 228/1091 đã sử dụng thuốc kháng sinh không theo chỉ định. Hầu hết các loại kháng sinh không kê đơn đều được mua ở các hiệu thuốc (199/228; 87,3%). Tỷ lệ sử dụng kháng sinh không theo chỉ định cao hơn ở những người mua từ thị trường không chính thức (82,6%; 14/17) và cửa hàng tại nhà (66,7%; 18/12) so với ở hiệu thuốc (24,6%; 199/810) (p = 0,000).
Mua thuốc kháng sinh không theo chỉ định là một thực tế phổ biến và hầu hết được bán ở các hiệu thuốc, cho thấy việc kiểm tra thiếu sót. Cần phải có những can thiệp để củng cố sự tuân thủ của các 6 nhà thuốc đối với luật hiện hành về cấp phát thuốc kháng sinh, kết hợp với giáo dục cộng đồng (12). Nghiên cứu “Sử dụng kháng sinh, kiến thức và thực hành về kháng sinh ở các bà mẹ cho con bú ở bang Kaduma Nigeria ” được thực hiện bởi Hambal L và các cộng sự năm 2017, nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa tình trạng xã hội học và sử dụng kháng sinh, thực hành và kiến thức về khái niệm kháng kháng sinh ở các bà mẹ cho con bú. Nghiên cứu được thực hiện tại 6 bệnh viện của bang Kaduma.
Với sự tham gia của 321 người, kết quả cuộc khảo sát cho thất có 25,27% người tin rằng kháng sinh được sử dụng để điều trị sốt, cảm lạnh thông thường, chống virus, vi khuẩn. Có tới 43,5% cho biết rằng chưa từng nghe qua thuật ngữ này (13). Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về kháng sinh: những hiểu biết mới từ các cuộc điều tra cắt ngang về hành vi y tế nông thôn ở Đông Nam Á có thu nhập thấp và thu nhập trung bình với 2141 người trưởng thành ≥18 tuổi) của dân số nông thôn nói chung, đại diện cho 712 000 dân tại Chiang Rai (Thái Lan) và Salavan (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào). Kết quả cho thấy người dân có kiến thức về thuốc kháng sinh (Chiang Rai: 95,7%; Salavan: 86,4%; p <0,001) và kháng thuốc (Chiang Rai: 74,8%; Salavan: 62,5%; p <0,001) (14).
Nghiên cứu “Thực hành của bệnh nhân tiêu thụ kháng sinh và kiến thức về kháng kháng sinh ở vùng Ả Raapk Saudi” của Imaan Benmerzouga và các cộng sự với mục đích điều tra các hành vi lạm dụng kháng sinh ở khu vực Hail và mức độ nhận thức của mọi người về tình trạng kháng kháng sinh ở đây. Nghiên cứu đã chọn những người trên 18 tuổi của cả hai giới bằng cách lấy mẫu thuận tiện từ những nơi cộng đồng khác nhau trên địa bàn nghiên cứu. Có 500 đối tượng nghiên cứu, với 26% người trả lời cho rằng kháng sinh mà họ sử dụng không cần bác sỹ kê toa, 27% người trả lời rằng dùng kháng sinh khi bị nhiễm trùng không rõ nguyên nhân và chỉ có 34% đối tượng là hoàn thành liệu trình kháng sinh và sự gia tăng của nó nhưng phần lớn vẫn sẵn sàng học thêm kiến thức (15). Nghiên cứu về “Kiến thức, thái độ và thực hành về việc sử dụng thuốc kháng sinh.
Nghiên cứu về dân số chung của quận Mures, Romania” của tác giả Voidăzan S và các cộng sự năm 2019 sử dụng bộ câu hỏi bao gồm 33 câu hỏi về thái độ và kiến thức của người dân về việc sử dụng kháng sinh và sự kháng kháng sinh. Kết quả cho 7 thấy, có 62,65% người cho rằng thuốc kháng sinh được sử dụng để điều trị nhiễm vi khuẩn và 61,45% đã sử dụng một loại kháng sinh ít nhất 1 lần trong năm trước. Có 10,34% người được hỏi sử dụng kháng sinh theo khuyến nghị từ gia đình, bạn bè và 22,9% người sử dụng kháng sinh còn sót lại từ đơn thuốc cuối cùng của họ. Có 65,9% người được hỏi có hỏi ý kiến bác sỹ mỗi lần trước khi sử dụng thuốc.
Có hơn 82% người trả lời rằng việc sử dụng kháng sinh không kê đơn có tác dụng tiêu cực và 85,14% số người đã nghe về khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn(16). Nghiên cứu“Nhận thức và thái độ của phụ huynh Thượng Hải đối với việc sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ em” của Wang J, Sheng Y và các cộng sự được thực hiện trong 2 tháng năm 2017. Những người tham gia là người giám hộ chính đưa trẻ đi tiêm chủng tại 3 trung tâm y tế cộng đồng. Có 1368 cha mẹ trẻ được phỏng vấn.
Có 68,9% trẻ em đã d ng thuốc kháng sinh. Nghiên cứu chỉ ra rằng, trình độ học vấn, thu nhập của cha mẹ trẻ liên quan đến sự hiểu biết của họ trong việc sử dụng kháng sinh. Những người không biết về kháng kháng sinh, có mức thu nhập thấp được cho rằng có liên quan đến việc thực hành sử dụng kháng sinh không đúng (17). Nghiên cứu tại Ba Lan cho thấy tỷ lệ người dân dụng thuốc kháng sinh trong vòng 12 tháng trước khi họ tham gia vào nghiên cứu là 38%.
Phần lớn thuốc kháng sinh được sử dụng do bác sĩ kê đơn 90%. Trong tất cả năm đợt, 3% số người được hỏi mua thuốc kháng sinh mà không cần đơn. Các đơn thuốc chủ yếu được lấy từ một bác sĩ đa khoa. Những lý do phổ biến để dùng thuốc kháng sinh là cảm lạnh thông thường, đau họng, ho và cảm cúm.
Khoảng 40% số người được hỏi mong đợi một đơn thuốc kháng sinh chống cảm cúm. Đại đa số đều biết rằng kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn 80% nhưng đồng thời 60% người được hỏi tin rằng kháng sinh tiêu diệt vi rút. Bác sĩ, dược sĩ, nhân viên và y tá bệnh viện được coi là nguồn thông tin đáng tin cậy nhất. Một phần ba số người được hỏi tuyên bố đã em thông tin về việc sử dụng thuốc kháng sinh một cách thận trọng trong 12 tháng trước đó (18).
Tại Việt Nam Nhận thức của cộng đồng về việc sử dụng và kháng thuốc kháng sinh của người dân ở các vùng cao của Việt Nam là nghiên cứu được thực hiện trên 5 tỉnh tại Việt Nam với 1000 hộ gia đình. Cho thấy kết quả 64,2% người dân ý thức được việc kê đơn thuốc. Hơn 2/3 67,4% số người tham gia biết về việc sử dụng kháng sinh, trong đó 8 chỉ 55,8% biết về kháng thuốc kháng sinh.