ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một loại ung thư phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao ở giới nữ trên thế giới cũng như tại Việt Nam. UTCTC là bệnh lý ác tính của biểu mô lát hoặc biểu mô tuyến cổ tử cung, thường gặp từ độ tuổi 30 trở đi (1). Theo GLOBOCAN 2020 (a), UTCTC là bệnh ung thư phổ biến thứ 4 (ASR=13.000 người) ở phụ nữ trên toàn cầu với 6,04 triệu người mắc mới (chiếm 6,5% số ca ung thư mắc mới ở nữ trong mọi lứa tuổi), đồng thời xếp thứ 4 về tỷ lệ tử vong gây ra cho nữ giới với 3,41 triệu người tử vong (2). Cũng theo GLOBOCAN 2020 (b), trong năm 2020 Việt Nam ghi nhận 4.132 người mắc mới và 2.223 phụ nữ tử vong do UTCTC (3).
Nếu phát hiện, điều trị sớm UTCTC thì có khả năng chữa khỏi bệnh hoàn toàn, có thể bảo tồn tử cung, khả năng sinh nở và tính mạng của người bệnh. Nhưng bệnh UTCTC thường không xảy ra đột ngột mà diễn tiến âm thầm từ 10 năm đến 20 năm. Các triệu chứng lâm sàng của bệnh UTCTC khá mờ nhạt, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh phụ khoa khác, gây khó khăn trong phát hiện bệnh dẫn đến nguy cơ tử vong cao (4). Từ thập niên 50 của thế kỷ trước, nhờ các chương trình sàng lọc phát hiện sớm UTCTC, đã giúp giảm tới 70% những trường hợp bị UTCTC xâm lấn (5).
Tại Việt Nam, những năm qua Chính phủ luôn quan tâm đến công tác phòng chống UTCTC, việc đẩy mạnh tiêm phòng UTCTC bằng vắc xin HPV và đặc biệt là chương trình sàng lọc UTCTC đã được tích cực triển khai từ trung ương đến cơ sở. Bộ Y tế đã ban hành kế hoạch hành động quốc gia về dự phòng và kiểm soát UTCTC giai đoạn năm 2016–2025; hướng dẫn dự phòng, kiểm soát UTCTC, nêu rõ các phương pháp sàng lọc UTCTC được áp dụng hiện nay như: xét nghiệm tế bào cổ tử cung (CTC) (Papsmear), xét nghiệm HPV, quan sát CTC với acid acetic (VIA), quan sát CTC bằng mắt thường với Lugols iodine (VILI) (6,7). Tuy nhiên, thực tế cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành sàng lọc UTCTC ở phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, còn nhiều hạn chế. Đa số phụ nữ chỉ đi khám sàng lọc UTCTC khi có các dấu hiệu lâm sàng bất thường (8–14).
Có nhiều yếu tố tác động đến thực hành sàng lọc UTCTC như: yếu tố cá nhân người phụ nữ, yếu tố gia đình, trong đó có sự hỗ trợ của người chồng, và sự tác động của môi trường xã hội (10,11,14). 2 Trên địa bàn huyện Tam Nông, từ đầu năm 2020 đến tháng 6/2021 có 511 ca mắc mới UTCTC và 31 ca tử vong vì UTCTC. Theo báo cáo chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2020, tỷ lệ phụ nữ từ 21-65 tuổi khám phụ khoa thấp (56,39%) và được sàng lọc UTCTC cũng chỉ đạt 52,96%. Tỷ lệ phụ nữ từ 30-54 tuổi trong huyện thực hiện sàng lọc UTCTC chỉ chiếm 42,11% (15,16).
Kiến thức, thái độ, thực hành về sàng lọc UTCTC của phụ nữ huyện Tam Nông như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành về sàng lọc UTCTC? Kế hoạch hành động quốc gia về dự phòng và kiểm soát UTCTC yêu cầu tỷ lệ phụ nữ 30-54 tuổi được sàng lọc UTCTC phải đạt 60% vào năm 2025 (7). Đáp ứng chỉ tiêu này là một thách thức lớn đối với ngành y tế huyện Tam Nông. Để góp phần giải quyết được thách thức này, cần đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về sàng lọc UTCTC của phụ nữ ở nhóm tuổi 30-54 trên địa bàn huyện Tam Nông và phân tích các yếu tố liên quan đến việc có kiến thức, thái độ, thực hành đúng của họ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về sàng lọc UTCTC và một số yếu tố liên quan của phụ nữ có chồng từ 30-54 tuổi tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp năm 2022”, qua đó đưa ra các khuyến nghị cụ thể nhằm cải thiện tỷ lệ phụ nữ ở nhóm tuổi 30-54 khám sàng lọc UTCTC, nâng cao hiệu quả phòng ngừa bệnh, tiến đến giảm tỷ lệ mắc và tử vong do UTCTC ở phụ nữ trên địa bàn huyện.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về sàng lọc UTCTC của phụ nữ có chồng từ 30-54 tuổi tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp năm 2022. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về sàng lọc UTCTC của phụ nữ có chồng từ 30–54 tuổi tuổi tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp năm 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm ung thư cổ tử cung và sàng lọc 1. Ung thư cổ tử cung Cổ tử cung (CTC) là phần bên dưới của tử cung, nối liền giữa phần thân tử cung và âm đạo. Phần CTC gần với thân tử cung nhất được gọi là CTC trong. Phần gần âm đạo hơn gọi là CTC ngoài.
Hai loại tế bào lát là các tế bào tuyến (ở CTC ngoài) và các tế bào trụ (ở CTC trong). Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là bệnh lý ác tính của biểu mô lát (biểu mô vảy) hoặc biểu mô tuyến CTC, thường gặp ở phụ nữ ở độ tuổi 30 trở đi, đứng hàng thứ 2 trong số các ung thư về sinh dục ở nữ giới về tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong (6). * Nguyên nhân gây bệnh ung thư cổ tử cung Ung thư cổ tử cung là căn bệnh do nhiễm một hoặc nhiều týp virus gây u nhú ở người (Human Papilloma virus-HPV) nguy cơ cao đã được khẳng định là nguyên nhân tiên phát của UTCTC. HPV là tác nhân truyền qua đường tình dục.
Đến nay đã phát hiện được khoảng 150 týp HPV, trong đó có hơn 30 týp thường lây lan qua quan hệ tình dục. Nguy cơ nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời của người phụ nữ là khoảng 80%. HPV có thể lây truyền từ người này sang người khác trong quá tình tiếp xúc da kề da. Một cách lây lan HPV là thông qua hoạt động tình dục, bao gồm cả âm đạo, hậu môn thậm chí là cả tình dục bằng miệng.
Các loại HPV nguy cơ cao gây ra ung thư, bao gồm ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo ở phụ nữ, ung thư hậu môn, miệng và cổ họng ở cả nam giới và phụ nữ (6). * Yếu tố nguy cơ gây bệnh ung thư cổ tử cung Hầu hết UTCTC đều do HPV gây ra, loại virus này có thể lây từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục, ngoài ra còn có các yếu tố khác gây tăng UTCTC như (6): Hút thuốc lá; suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, sử dụng steroid liều cao; nhiều bạn tình; hoạt động tình dục sớm; sử dụng thuốc ngừa thai lâu dài trên 5 năm; sinh nhiều hơn 3 con; nhiễm Chlamydia trachomatis và Herpes simplex virus; thừa cân; sử dụng dụng cụ tránh thai; mang thai sớm dưới 17 tuổi; tình trạng kinh tế kém; tiếp xúc với DES trong bào thai; tiền sử gia đình có người bị UTCTC. * Triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung 5 Phụ nữ mắc UTCTC giai đoạn sớm thường không có triệu chứng. Triệu chứng thường không bắt đầu cho đến khi ung thư trở nên xâm lấn và phát triển, các triệu chứng phổ biến nhất như (6): Xuất huyết âm đạo bất thường (xuất huyết sau khi quan hệ tình dục, sau mãn kinh, giữa hai chu kỳ kinh, xuất huyết sau khi thụt rửa hoặc sau khi khám khung chậu cũng có thể xảy ra); có kinh nguyệt lâu hơn hoặc nặng hơn bình thường; dịch tiết âm đạo bất thường (dịch tiết có thể chứa một lượng máu, có thể xảy ra giữa các chu kỳ kinh nguyệt hoặc sau khi mãn kinh); đau khi quan hệ.
Sàng lọc ung thư cổ tử cung Sàng lọc là quá trình áp dụng một biện pháp kỹ thuật hay xét nghiệm để phát hiện sớm một bệnh ở thời kỳ tiền lâm sàng mà bệnh đó chưa có biểu hiện những triệu chứng lâm sàng (6). Phương pháp tiếp cận phòng ngừa UTCTC chính là tiêm vacxin HPV và phòng ngừa thứ cấp là sàng lọc và điều trị các tổn thương tiền ung thư, thực hiện tốt các phương pháp giúp ngăn ngừa hầu hết các trường hợp UTCTC. Sàng lọc UTCTC là quá trình áp dụng một trong các phương pháp như: quan sát CTC với acid acetic (VIA), quan sát CTC với dung dịch Lugol (VILI), xét nghiệm HPV (đơn độc hoặc kết hợp với tế bào học), sàng lọc bằng tế bào CTC để phát hiện nguy cơ UTCTC, hoặc tiền UTCTC từ đó có định hướng phác đồ điều trị phù hợp. Vai trò và các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung 1.
Vai trò của sàng lọc ung thư cổ tử cung Sàng lọc có vai trò then chốt trong việc giảm nhẹ gánh nặng bệnh do UTCTC. Nhiều quốc gia thực hiện tốt sàng lọc UTCTC, độ bao phủ rộng khắp kiểm soát tốt tỷ lệ mới mắc và tử vong như Australia, Thụy Điển, Mỹ, Đức. Ngày nay, các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình đang từng bước triển khai chương trình sàng lọc UTCTC phù hợp với tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Sàng lọc là biện pháp dự phòng cấp 2 nhằm phát hiện các tổn thương tân sản nội biểu mô cổ tử cung, đây là chiến lược hiệu quả để phòng ngừa UTCTC.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo cần kết hợp tốt sàng lọc, truyền thông trong cộng đồng và sự tham gia của các tuyến y tế (7,17). Các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung Trong các phương pháp sàng lọc UTCTC thì xét nghiệm tế bào CTC là phương pháp chuẩn xác nhất-Gold standard, do thỏa mãn các điều kiện: độ nhạy khá, có thể lặp lại nhiều lần và đã chứng minh được tính hữu hiệu khi hạ thấp tần suất ung thư xâm lấn CTC ở các nước phát triển. Phương pháp VIA/VILI thường được áp dụng ở hầu hết các nước đang phát triển vì nó dễ thực hiện và chi phí thấp, cho kết quả ngay, nhưng nó chỉ áp dụng cho phụ nữ quan sát được vùng chuyển tiếp CTC. Phương pháp VIA/VILI, sàng lọc bằng xét nghiệm HPV được áp dụng cho phụ nữ nguy cơ cao từ 25-65 tuổi với chu kỳ sàng lọc 3 năm/lần.
Ở từng độ tuổi sẽ có phác đồ sàng lọc khác nhau (6): - Từ 21-65 tuổi: Nên sàng lọc định kỳ 1năm/lần và nếu 03 lần xét nghiệm sàng lọc liên tiếp có kết quả âm tính thì giãn thời gian sàng lọc định kỳ 2-3năm/lần (6).