ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới và là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong. Theo thống kê của Liên đoàn Tim mạch thế giới năm 2012, trên thế giới có tới 970 triệu người mắc THA, trong đó ở các nước phát triển chiếm khoảng 330 triệu người và khoảng 640 triệu người ở các quốc gia đang phát triển. Số người mắc THA ước tính sẽ tiếp tục tăng và đạt khoảng 1,56 tỷ người vào năm 2025 [41]. Bệnh tăng huyết áp rất nguy hiểm vì nó diễn biến âm thầm và gây ra những biến chứng có thể đe dọa tính mạng người bệnh hoặc để lại gánh nặng tàn phế.
Nó cũng là nguyên nhân gây tử vong cho 7,5 triệu người và 64 triệu người sống trong tàn tật mỗi năm, chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu. Việc điều trị THA sẽ phòng ngừa và làm giảm khoảng 40% nguy cơ đột quỵ và khoảng 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim [12]. Tại Việt Nam, THA là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại cộng đồng ở người lớn, 46% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện Tim Mạch Việt Nam (2005) có liên quan đến THA và hơn 1/3 bệnh nhân tai biến mạch máu não (TBMMN) điều trị tại Khoa Thần Kinh, bệnh viện Bạch Mai có nguyên nhân là THA [26]. Các biến chứng của THA rất thường gặp, hình thái đa dạng và mức độ nặng nề như tàn phế, thậm chí là tử vong [25].
Tuy nhiên, kiến thức cũng như việc kiểm soát THA ở người dân còn chưa tốt. Theo một điều tra gần đây nhất của Viện Tim Mạch Việt Nam tiến hành năm 2008 ở người lớn (≥ 25 tuổi) tại 8 tỉnh và thành phố cho thấy tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1% nghĩa là cứ 4 người lớn ở nước ta thì có 1 người bị THA. Trong số những người bị THA thì có tới 30% (khoảng 1,6 triệu) người đã biết bị THA nhưng vẫn không có biện pháp điều trị nào; và có đến 64% (khoảng 2,4 triệu) người THA đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về huyết áp mục tiêu [24]. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình là bệnh viện lớn thuộc tuyến tỉnh, thành phố và là một trong năm bệnh viện đa khoa vệ tinh chuyên ngành tim mạch ở miền bắc với tổng số giường kế hoạch/tổng số giường bệnh thực kê là 600/886 giường.
Trong những năm gần đây số lượng bệnh nhân THA nhập viện điều trị nội trú, số bệnh nhân nhập viện do cơn tăng huyết áp và biến chứng do THA tại khoa tim 2 mạch tăng, thay đổi qua các năm: 1,955 bệnh nhân (năm 2012), 2,305 bệnh nhân (năm 2013) và 3,366 bệnh nhân (năm 2014) [6, 8]. Trong khi, qua khảo sát nhanh cho thấy kiến thức của người bệnh hiểu đúng về bệnh THA, các yếu tố nguy cơ và mức độ nguy hiểm của bệnh còn chưa tốt. Ngay cả khi có những hiểu biết nhất định về bệnh THA thì việc thực hành phòng biến chứng của người bệnh cũng còn hạn chế. Sự chủ quan trong việc điều trị, phòng ngừa biến chứng THA của người bệnh trong cộng đồng sẽ làm tăng tỷ lệ biến chứng do THA, ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh và là gánh nặng cho gia đình, xã hội.
Từ những phân tích trên, nghiên cứu kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng biến chứng ở bệnh nhân tăng huyết áp điều trị tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2015 được thực hiện nhằm bước đầu tìm hiểu kiến thức, thực hành phòng biến chứng THA của người bệnh. Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp cho lãnh đạo Bệnh viện có những chương trình can thiệp hiệu quả từ đó góp phần làm giảm tỷ lệ mắc và biến chứng do THA gây ra, đồng thời góp phần mở rộng và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thực hành về phòng biến chứng ở bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2015.
Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng biến chứng ở bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị tại khoa khám bệnh, bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2015. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thông tin về tăng huyết áp 1. Định nghĩa huyết áp Huyết áp là áp lực của máu lên thành mạch.
Huyết áp mà ta thường nói đó là huyết áp động mạch, là áp lực máu lên thành động mạch mà ta đo được [18, 40]. Khi tim co bóp, áp lực trong động mạch lớn nhất, gọi là huyết áp tâm thu (HATT) hay huyết áp tối đa. Khi tim nghỉ, các cơ tim giãn ra tạo nên áp lực âm tính trong các buồng tim để hút máu về. Lúc này áp lực trong động mạch máu xuống thấp nhất, gọi là huyết áp tâm trương (HATTr) hay huyết áp tối thiểu [18].
Định nghĩa tăng huyết áp Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính trong đó áp lực máu hệ thống động mạch tăng cao, bệnh được phân loại thành các giai đoạn theo từng mức HATT và tâm trương [16]. Hội THA thế giới (ISH) cùng với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã quy định huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên được gọi là THA (HATT ≥ 140 hoặc HATTr ≥ 90) [29, 38]. Tại Việt Nam, năm 2010 theo Bộ Y tế một người trưởng thành (lớn hơn hoặc bằng 18 tuổi) được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg [2]. Phân loại tăng huyết áp THA triệu chứng hay THA thứ phát: là các trường hợp đã tìm ra nguyên nhân làm cho huyết áp tăng cao và nếu được điều trị bệnh chính thì huyết áp có thể trở lại bình thường [5].
THA nguyên phát là các trường hợp huyết áp cao nhưng không tìm được nguyên nhân, thể này chiếm từ 90 – 95% số người bị THA [5]. Theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC – Join National Committee) lần thứ VI thì THA được chia làm 3 độ: THA độ I (HATT: 140 – 159 mmHg hoặc HATTr: 90-99 mmHg); THA độ II (HATT: 160 – 179 mmHg hoặc HATTr: 100-109 mmHg) và THA độ III (HATT ≥ 180mmHg hoặc HATTr ≥ 110 mmHg) [33]. 5 Năm 2010, Bộ Y tế ban hành “hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA” cũng lấy chỉ số huyết áp, được gọi là THA khi HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90mmHg và phân loại gần giống với JNC VI chỉ khác là phân độ huyết áp của Bộ Y tế thay tên huyết áp bình thường cao bằng tiền THA nhưng chỉ số vẫn không đổi và Bộ Y tế có thêm khái niệm THA tâm thu đơn độc (HATT ≥ 140mmHg, HATTr < 90mmHg). Nếu HATT và HATTr không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại.
Tăng huyết áp tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của HATT [2] (chi tiết phục lục 6). Một số biến chứng hay gặp của bệnh tăng huyết áp Biến chứng của THA diễn ra âm thầm, lặng lẽ, trong một thời gian dài không có triệu chứng. Vì thế hầu hết bệnh nhân không biết mình bị biến chứng do THA. Chỉ khi bệnh tiến triển tới giai đoạn nhất định, gây tổn thương đến các cơ quan, tổ chức khác, đi khám mới phát hiện ra bệnh.
Các biến chứng thường gặp là: đột quỵ, thiếu máu thoáng qua, sa sút trí tuệ; bệnh tim mạch vành; suy tim; nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực, bệnh mạch máu ngoại vi; suy thận; xuất huyết võng mạc và suy giảm thị lực [37]. Biến chứng ở não Đột quỵ do tăng huyết áp hay thường được gọi là tai biến mạch máu não do THA là một thuật ngữ chung để chỉ các bệnh do tắc mạch não (nhồi máu não) và do 6 chảy máu não (xuất huyết não). Bệnh hay gặp ở người lớn tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do xơ vữa động mạch và tăng huyết áp.
Khi bị đột quỵ, một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi não do tắc hoặc vỡ mạch máu não. Khi thiếu máu lên não, các tế bào não sẽ ngừng hoạt động và sẽ chết đi sau vài phút. Những tổn thương này dẫn đến các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ bị tổn thương như yếu, liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không còn khả năng lao động, khó hòa nhập cuộc sống bình thường [3].
Tai biến mạch máu não là một loại hình tổn thương nghiêm trọng nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến tử vong hoặc gây ra những di chứng nặng nề. Cần xem xét các dấu hiệu và triệu chứng bắt đầu dự báo của cơn tai biến để có thể đưa ra quyết định điều trị kịp thời. Những dấu hiệu nhận biết tai biến mạch máu não: Rắc rối với đi bộ, có thể vấp ngã hoặc chóng mặt đột ngột, mất thăng bằng hoặc mất phối hợp. Rắc rối với nói, có thể nói khó hoặc không thể giải thích những gì đang xảy ra.
Tê liệt hoặc tê ở một bên của cơ thể hoặc khuôn mặt, có thể phát triển đột ngột tê liệt, yếu hoặc liệt ở một bên của cơ thể. Rắc rối với nhìn một hoặc cả hai mắt, có thể đột nhiên bị mờ hoặc đen tầm nhìn. Nhức đầu dữ dội đột ngột, chóng mặt, choáng váng [14]. Theo thống kê của WHO (2013), trong số các ca tử vong do biến chứng của THA thì chiếm tới 51% các ca tử vong là do đột quỵ [39].
Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại Hoa Kỳ, giết chết 130.000 người Mỹ mỗi năm. Trung bình cứ 40 giây có một người nào đó ở Hoa Kỳ có một cơn đột quỵ và cứ 4 phút lại có một người chết vì đột quỵ. Huyết áp cao, cholesterol cao và hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính gây đột quỵ [31, 34]. Tại Châu Á, năm 2010 tỷ lệ tử vong do đột quỵ ở nữ là 31,4/100.000 dân, ở nam là 35,2/100.