mở đầu cho sự phát triển loại bệnh dịch không nhiễm khuẩn đầu tiên trong lịch sử nhân loại - dịch béo phì. Thừa cân béo phì là tình trạng cơ thể tích tụ quá nhiều mỡ do hậu quả của sự mất cân bằng năng lượng, có nghĩa là năng lượng đưa vào cơ thể vượt quá năng lượng tiêu hao. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): - Thừa cân là tình trạng cân nặng cơ thể vượt quá cân nặng nên có so với chiều cao. - Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [3], [68].
Dịch tễ học thừa cân, béo phì 1. Trên thế giới Đại dịch thừa cân, béo phì đang ngày càng trở thành gánh nặng lớn và là một vấn đề cần được nhanh chóng giải quyết của hệ thống y tế trong thế kỷ XXI. Tình trạng thừa cân đang ảnh hưởng đến hơn 1/3 dân số thế giới hiện nay. Nếu như xu hướng này tiếp tục được duy trì, ước tính cho tới năm 2030 sẽ có khoảng 38% dân số trưởng thành trên thế giới bị thừa cân và 20% dân số trưởng thành bị béo phì.
Tại Hoa Kỳ, xu hướng về tình trạng này thâm chí còn đưa ra những dụ báo nghiêm trọng hơn nhiều, cụ thể sẽ có khoảng 85% dân số trưởng thành bị thừa cân hoặc béo phì vào năm 2030. TC, BP là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm [31]. TC, BP không chỉ là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở các quốc gia phát triển mà ngay cả các quốc gia đang phát triển số lượng người béo phì cũng đang tăng nhanh, đặc biệt là khu vực thành thị [68]. 4 Theo WHO, tỷ lệ béo phì trên toàn thế giới đã tăng gần gấp ba lần từ năm 1975 đến năm 2016.
Vào năm 2016, thế giới có hơn 1,9 tỷ người trên 18 tuổi bị thừa cân chiếm 39%, trong số đó hơn 650 triệu người bị béo phì. Ước tính có 39 triệu trẻ em dưới 5 tuổi và 340 triệu trẻ em từ 5 - 19 tuổi bị thừa cân, béo phì. Năm 2019, ước tính có khoảng 38,2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân, béo phì trong số đó có hơn một nửa trẻ đang sinh sống ở Châu Á, Châu Phi. Số trẻ em dưới 5 tuổi thừa cân đã tăng gần 50% kể từ năm 2000 [68].
Theo một nghiên cứu của Melinda Atienza và cộng sự, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở Châu Á của trẻ mẫu giáo là 3,2% vào năm 2990, tăng lên 4% vào năm 2010 và tỷ lệ này ước tính là 6,8% vào năm 2020. Tính theo con số thực tế, tại Châu Á năm 1990 có 12,4 triệu trẻ em thừa cân, béo phì, con số này tăng lên thành 18 triệu trẻ vào năm 2010 và 24 triệu trẻ vào năm 2020 [27]. Đối với khu vực Đông Nam Á, só lượng trẻ em béo phì đã tăng từ 1,2 triệu lên 2,5 triệu trẻ trong vòng 20 năm (1990 - 2020) [27]. Sự phân bố tỷ lệ TC, BP ở trẻ em không đồng đều giữa các nước trong khu vực.
Tại vùng Đông Bắc của Thái Lan, theo nghiên cứu của Lagendis cùng cộng sự cho thấy có 8% trẻ em gái và 13,5% trẻ em trai bị béo phì. Sự chuyển dịch nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp là nguyên nhân cho sự thay đổi tỷ lệ thừa cân, béo phì này. Tại Campuchia do đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, tốc độ đô thị hóa chưa mạnh nên tỷ lệ TC, BP tương đối thấp. Trong nghiên cứu của Horiuchi và cộng sự trên hơn 2000 học sinh từ 6-17 tuổi cho thấy, tỷ lệ TC, BP chỉ có 3,1% trong đó ở thành thị là 6,4% và nông thôn là 2,3% [39].
Tại Indonesia, theo nghiên cứu của Rachmi và cộng sự năm 2016 qua các năm 1993, 1997, 2000 và 2007 cho thấy tỷ lệ TC, BP tăng từ 10,3% lên 16,5%. Những yếu tố của nguy cơ BP như trẻ ở độ tuổi < 3 tuổi, trẻ trai và trẻ có cha mẹ bị TC, BP [57]. Tỷ lệ thừa cân và béo phì vùng (>2SD CN/CC trùng bình) ở trẻ em trong độ tuổi từ 0-5 tuổi theo Liên hợp quốc từ năm 1990 - 2020 [66] Vùng Liên hợp quốc 1990 1995 2000 2005 2010 2015 2020 % Châu Phi 4,0 4,7 5,7 6,7 8,5 10,4 12,7 Châu Á 3,2 3,4 3,7 4,2 4,9 5,7 6,8 Châu Mỹ La tinh 6,8 6,8 6,8 6,9 6,9 7,0 7,2 Chây Đại Dương 2,9 3,1 3,2 3,3 3,5 3,6 3,8 Các nước phát triển 7,9 8,8 9,7 10,6 11,7 12,9 14,1 Toàn cầu 4,2 4,6 5,1 5,8 6,7 7,8 9,1 1. Tại Việt Nam Trước năm 1985, tỷ lệ TC, BP ở trẻ mẫu giáo và tiểu học tại Việt Nam hầu như không đáng kể.
Trong những năm gần đây, tỷ lệ TC, BP ở trẻ em có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt ở các thành phố lớn. Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em <5 tuổi năm 2010 là 5,6%; tỷ lệ BP riêng là 2,8%. Kết quả này cho thấy tỷ lệ TC, BP ở trẻ dưới 5 tuổi quá mức 5% mức đặt ra khống chế trong Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001 - 2010, thậm chí ở vùng thành thị tỷ lệ TC, BP là 6,5%. Xu hướng TC, BP gia tăng đáng báo động.
Năm 2004, vùng thành thị có 5,5% trẻ em TC, BP và chỉ có 1,7% trẻ em nông thôn TC, BP đến năm 2011 có đến 29% trẻ TC, BP ở thành thị và 5,6% trẻ TC, BP ở vùng nông thôn [25]. Tỷ lệ TC, BP năm 2000 - 2011 ở trẻ từ 0 đến 5 tuổi tại Việt Nam [25] STT Năm Thành thị Nông thôn Cả nƣớc 1 2000 0,9 0,5 0,7 2 2010 14,8 6,2 8,2 3 2011 29,0 5,6 11,6 Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn năm 2030 khẳng dịnh nhiệm vụ cải thiện dinh dưỡng là trách nhiệm của các ngành, các cấp và mọi người dân. Cần phấn đấu đảm bảo dinh dưỡng cân đối, hợp lý là yếu tố quan trọng nhằm hướng tới phát triển toàn diện về tầm vóc, thể chất, trí tuệ của người Việt Nam và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nội dung cụ thể của Chiến lược bao gồm 6 mục tiêu cụ thể trong đó có mục tiêu thứ 4 là từng bước kiếm soát có hiệu quả tình trạng thừa cân, béo phì.
Phƣơng pháp đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em Đánh giá tình trạng dinh dưỡng (DD) là một nội dung kỹ thuật quan trọng hàng đầu của dinh dưỡng học. Tình trạng DD người có thể được đánh giá thông qua các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo nhân trắc DD. Cho đến nay, số đo nhân trắc DD được xem là nhạy, khách quan và có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá tình trạng DD của một cá thể hay của cộng đồng. Ở trẻ em, hai chỉ số thường dùng nhất để đánh giá tình trạng thừa cân béo phì của trẻ là chỉ số cân nặng/chiều cao (CN/CC) và chỉ số BMI theo tuổi và giới Để đánh giá thừa cân béo phì ở trẻ em từ 0 - 60 tháng: được tính dựa trên chỉ số Z-score (đơn vị độ lệch chuẩn) của chỉ số cân nặng/chiều cao so với chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006.
Chỉ số cân nặng theo chiều cao với Z-score [23] Chỉ số Đánh giá Z-score < -3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm mức độ nặng -3SD ≤ Z-score < -2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm -2SD ≤ Z-score ≤ 2SD Trẻ bình thường 2SD < Z-score ≤ 3SD Trẻ thừa cân Z-score > 3SD Trẻ béo phì Để đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em từ 5 - 9 tuổi: được tính dựa trên chỉ số Z-score BMI theo tuổi và giới Bảng 1. Chỉ số cân nặng theo chiều cao với Z-score [23] Chỉ số Đánh giá Z-score < -3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ nặng -3SD ≤ Z-score < -2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ vừa -2SD ≤ Z-score ≤ 1SD Trẻ bình thường 1SD < Z-score ≤ 2SD Trẻ thừa cân Z-score > 2SD Trẻ béo phì 1. Sinh lý bệnh - Bilan năng lượng: Bilan năng lượng cân bằng nếu cung cấp (thức ăn) bằng tiêu thụ (vận động cơ, hoạt động các cơ quan). Béo phì xuất hiện do mất cân bằng này hoặc do cung cấp gia tăng hoặc do tiêu thụ giảm - Sự điều hòa thể trọng: quá trình này thông qua nhiều hormone, đặc biệt là leptin - Yếu tố di truyền: Béo phì có yếu tố gia đình: 69% người béo phì có cha hoặc mẹ béo phì, 18% có cả hai 8 - Vai trò vùng dưới đồi + Các tác nhân alpha-adrenergic, kích thích sự ăn làm tăng cân, tác động lên nhân cạnh thất + Các tác nhân beta-adrenergic: ngược lại làm chán ăn - Beta-endorphine: các thụ thể này làm dễ sự tiết insulin, gây ăn nhiều làm tăng cân.
+ Naloxone: đối kháng beta-endorphine, làm giảm ăn nhất là các thức ăn có vị ngon + Serotonine: đối kháng với alpha-adrenergic, làm giảm ăn. Các hormone: + Insulin là hormone làm tân sinh mỡ + Glucagon tác dụng đối kháng insulin + Enkephalin và catecholamin từ tuyến thượng thận cũng có vai trò trong điều hòa thể trọng + Hormone sinh dục và thượng thận có vai trò trong phân bố mỡ - Vai trò của stress: làm tăng beta-endorphine và adrenalin ở người béo phì, từ đó làm tăng đường huyết, tác dụng phối hợp của 2 hormone này thiết lập sự liên hệ giữa stress, béo phì và đái tháo đường típ 2. - Thái độ ăn uống: trung tâm đói và no do vùng dưới đồi điều khiển, thái độ ăn uống có thể bị thay đổi do thuốc, chẳng hạn thuốc thần kinh (amphetamine) làm giảm ngon miệng, chống trầm cảm 3 vòng làm tăng sự ngon miệng. Các yếu tố tâm lý liên quan đến môi trường như giáo dục, đời sống gia đình, môi trường công việc.có thể làm rối loạn thái độ ăn uống, từ đó có thể làm ăn nhiều hoặc chán ăn.
- Thuốc: nhiều loại thuốc làm tăng cân như các thuốc an thần kinh, muối lithium, corticoide, đồng hóa protein, sinh progesteron, và có khi osestrogene (làm tăng ngon miệng) [2]. Phân loại béo phì 1. Phân loại béo phì theo sinh bệnh học - Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng. - Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): là béo phì do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo phì.