phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động CSSK và PB cho trẻ trong trƣờng MN. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động CSSK và PB cho trẻ tại các trƣờng MN trên địa bàn phƣờng Quan Triều, thành phố Thái Nguyên. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động CSSK và PB cho trẻ tại các trƣờng MN trên địa bàn phƣờng Quan Triều, thành phố Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ PHÕNG BỆNH CHO TRẺ MẦM NON 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới đều nhất trí cho rằng: Giáo dục chính là động lực để phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực con ngƣời là tài sản quyết định cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Trong đó, vai trò của giáo dục MN ngày càng đƣợc coi trọng. Đến nay, có 160 nƣớc và các tổ chức quốc tế đã cam kết coi giáo dục MN là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi ngƣời và đặc biệt chú trọng phát triển chất lƣợng chăm sóc SK, phòng bệnh cho trẻ MN. Hội nghị sức khỏe thế giới Alma - Ata tổ chức năm 1978, đã đƣa ra nội dung liên quan đến chăm sóc SK trẻ em và vệ sinh, phòng chống các dịch bệnh.
Đối với trẻ MN, bao gồm 8 nội dung sau: + Giáo dục SK; + Phòng và chống các dịch bệnh đang lƣu hành ở địa phƣơng; + Tiêm chủng mở rộng (chủ yếu 6 bệnh lây nhiễm ở trẻ em); + Bảo vệ bà mẹ, trẻ em - kế hoạch hóa gia đình; + Đảm bảo thuốc thiết yếu và trang bị chủ yếu; + Cung cấp lƣơng thực, thực phẩm và cải thiện bữa ăn; + Điều trị bệnh thông thƣờng và thƣơng tích tại nhà; + Cung cấp đủ nƣớc sạch và thanh khiết môi trƣờng. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu với mục đích thông qua các nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng CSSK và PB cho trẻ đã có khá nhiều. Tuy nhiên, qua tìm hiểu, quản lý các hoạt động trong trƣờng MN lại chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều, đặc biệt là quản lý hoạt động CSSK và PB cho trẻ tại trƣờng MN. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo có: “Các hoạt động giáo dục dinh dƣỡng- SK cho trẻ MN”; “Quản lý trƣờng MN”… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn Bên cạnh đó, còn phải kể đến các luận văn tiến sỹ, thạc sỹ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ MN và đề ra những biện pháp quản lý các hoạt động này.
Đây cũng là những tài liệu cung cấp những kiến thức lí luận và thực tiễn cho các nhà quản lý giáo dục MN. Đề tài luận án tiến sỹ "Thực trạng suy dinh dƣỡng thấp còi và hiệu quả cải thiện khẩu phần cho trẻ dƣới 5 tuổi tại vùng ven biển Tiền Hải, Thái Bình" của tác giả Trần Quang Trung [28] đã đánh giá thực trạng suy dinh dƣỡng thấp còi và đƣa ra các giải pháp cải thiện khẩu phần ăn cho trẻ nhằm hạn chế suy dinh dƣỡng, góp phần CSSK và PB cho trẻ. Đề tài luận văn thạc sĩ “Các biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ của các Hiệu trƣởng trƣờng MN Quận 3- TP. Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt [25] đã đánh giá thực trạng và đƣa ra các biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ.
Đề tài luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ 5- 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” của tác giả Lục Thị Trung Hải, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, năm 2005. Tác giả tập trung nghiên cứu vào vai trò của hoạt động chơi trong sự phát triển thể chất của trẻ và đề ra những biện pháp làm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ để, góp phần phát triển vận động trẻ nhằm nâng cao SK thể chất cho trẻ. Trên các tạp chí khoa học, các phƣơng tiện thông tin đại chúng hiện nay cũng có rất nhiều những bài nghiên cứu, những bài báo đề cập đến những nội dung này. Về cơ bản những công trình trên đã đề cập đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, biện pháp quản lý của Hiệu trƣởng các trƣờng MN nói chung chứ chƣa có các công trình nghiên cứu sâu về hoạt động và các biện pháp quản lý hoạt động CSSK và PB cho trẻ - một trong những nội dung trọng tâm của giáo dục MN và hoạt động quản lý của ngƣời Hiệu trƣởng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn Từ những tìm hiểu và phân tích nhƣ trên, tác giả cho rằng: việc nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động CSSK và PB cho trẻ phù hợp trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề rất cần thiết, đặc biệt với địa bàn nơi tác giả đang công tác. Do vậy, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi 3 trƣờng MN trên địa bàn phƣờng Quan Triều- thành phố Thái Nguyên với mong muốn đề xuất các biện pháp nhằm góp phần cùng các nhà trƣờng thực hiện tốt công tác quản lý nhà trƣờng trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý Bàn về khái niệm quản lý, các nhà khoa học trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc có rất nhiều quan niệm khác nhau.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ nêu ra một số khái niệm của các nhà khoa học tiêu biểu, nhằm tìm ra cái chung, sự thống nhất của các nhà khoa học về quản lý. Theo Daft “quản lý là việc thực hiện các mục đích của tổ chức một cách hiệu quả và đạt hiệu xuất tốt, thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức”. Afanaxex, ông đƣa ra quan điểm: Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể để những cái đó có lợi cho tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội lẫn cá nhân. [20] Theo Trần Kiểm: “Quản lý là phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”.
[22] Với nhiều cách hiểu, cách định nghĩa, quan niệm đa dạng và phong phú về quản lý, các nhà khoa học đều thống nhất bản chất của quản lý đƣợc thể hiện bởi hai bộ phận chính có quan hệ mật thiết: - Bộ phận quản lý: là chủ thể quản lý có chức năng điều khiển hệ quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã đặt ra. - Bộ phận bị quản lý: là khách thể quản lý hoạt động dƣới sự điều hành của chủ thể quản lý, bao gồm lực lƣợng lao động và quá trình sản xuất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn Ngoài ra, hiệu quả của quản lý còn phụ thuộc vào yếu tố nhƣ: phƣơng pháp, công cụ quản lý và mục tiêu. - Công cụ quản lý là phƣơng tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể, có thể là mệnh lệnh (ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ), quyết định (văn bản hay không văn bản), các chính sách, luật, chƣơng trình, mục tiêu… - Phƣơng pháp có thể hiểu là cách thức tác động của chủ thể lên khách thể.
Trong quản lý hiện nay, phƣơng pháp quản lý đƣợc đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt động và phong cách quản lý trong tổ chức. - Mục tiêu có thể do chủ thể quản lý đề ra, cũng có thể do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể. Đồng thời, từ các nhà khoa học đều thống nhất quản lý có 4 chức năng cơ bản có quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau và tạo thành chu trình quản lý. Đó là các chức năng: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau song khái niệm quản lý có thể phát biểu khái quát: “quản lý là việc thực hiện các mục đích của tổ chức một cách hiệu quả và đạt hiệu suất tốt, thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức”. Quản lý trường MN Giáo dục MN là một bộ phận và là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Quản lý giáo dục ở mọi cấp đều nhằm mục đích là tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các cơ sở giáo dục thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục. Nhà trƣờng là đối tƣợng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục.
Trƣơng học với tƣ cách là một tổ chức cơ sở giáo dục, mang tính xã hội và trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ. Nhà trƣờng là tế bào chủ chốt của hệ thống giáo dục. Trƣờng học vừa là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo dục , vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó quản lý nhà trƣờng vừa có tính chất Nhà nƣớc vừa có tính chất xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn Theo Phạm Viết Vƣợng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”. Từ các khái niệm về quản lý trƣờng học nhƣ trên, xuất phát từ vị trí của giáo dục MN trong hệ thống giáo dục quốc dân và phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả quan niệm: Quản lý trường MN là quá trình chủ thể quản lý nhà trường thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng khác, cũng như huy động tối đa, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực giáo dục nhằm đưa nhà trường đạt được các mục tiêu phát triển". Sức khỏe Theo tổ chức Y tế thế giới: “Sức khỏe là một trạng thái thoải mái đầy đủ của con người về thể chất, tinh thần và xã hội”.