MỞ ĐẦU Kháng sinh đã trở thành một trong những phát minh vĩ đại của nhân loại. Từ những năm đầu thế kỷ 20, kháng sinh đã được đưa vào sử dụng và đóng vai trò quan trọng trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Nhờ có kháng sinh, tỉ lệ tử vong do các bệnh nhiễm khuẩn trên toàn thế giới đã giảm xuống. Vô hình chung, kháng sinh được xem như “thần dược” và được sử dụng tràn lan để điều trị bệnh.
Trình độ dân trí phát triển,điều kiện kinh tế cũng như đời sống ngày một nâng cao, mọi nhu cầu sinh hoạt của con người đều được đáp ứng một cách tiện lợi nhất.Trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cũng vậy, cùng với sự đầu tư ngày càng hoàn thiện của hệ thống y tế công, y tế tư nhân cũng được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Có rất nhiều các nhà thuốc tư nhân được mở rađể hỗ trợ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu và tham gia vào hoạt động tự điều trị, bao gồm cung cấp thuốc, tư vấn dùng thuốc, tự điều trị triệu chứng của một số bệnh đơn giản(Bộ Y tế, 2007). Nhưng mặt trái của sự tiện lợi quá mức đó là thuốc kháng sinh được sử dụng một cách tự do vượt ngoài tầm kiểm soát. Chính điều này dẫn đến việc xuất hiện ngày một nhiều các chủng mầm bệnh kháng thuốc, đặc biệt là sự gia tăng thất bại điều trị ở các loại kháng sinh mới ngày càng phổ biến.Như vậy, vô tình kho vũ khí điều trị bệnh của nhân loại bị thu hẹp, tốc độ nghiên cứu các loại thuốc mớithay thế đang không theo kịp so với sự đề kháng kháng sinh tự nhiên của vi khuẩn.
Nhiều bệnh nhiễm khuẩn thông thường sẽ không còn phương pháp chữa trị(Chan M.Việc tự ý dùng thuốc kháng sinh không theo chỉ định của bác sĩ, không đủ thời gian, không đủ liều lượng, lạm dụng thuốc kháng sinh mạnh, phổ tác dụng rộng, thế hệ mới vừa gây tốn kém cho bệnh nhân, vừa gây hiện tượng đề kháng kháng sinh rất đáng lo ngại. Ước tính thiệt hại hàng năm bắt nguồn từ kháng kháng sinh ở Mỹ khoảng 21-34 tỉ đô la và khoảng 1,5 tỉ ơ-rô ở châu Âu. Thái Lan cũng đã ước tínhthiệt hại 84,6-202,8 triệu đô latrong chi phí y tế trực tiếp, 1333 triệu đô la trong chi phí y tế gián tiếp; 3,2 triệu ngày nằm viện thêm và 38481 người chết vì kháng kháng sinh trong năm 2010(Sumpradit N. Trong khi đó, mô hình bệnh tật ở Việt Nam phần lớn vẫn là các bệnh truyền nhiễm.Kháng sinh vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong công tác điều trị.Việc sử dụng kháng sinh tự do, không kiểm soát đang trở thành vấn đề báo động của Việt Nam(HeimanWertheim, 2013).
Tổ chức Y tế thế giới(WHO) đã xếp Việt Nam vào danh sách các nước có tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới.Một báo cáo của trường Đại học Dược Hà Nội cho thấy: Việt Nam có số lượng người bệnh sử dụng kháng sinh cao gấp 5 lần so với các nước châu Âu. Tính trên 39916 cơ sở bán lẻ thuốc ở cộng đồng Việt Nam,90% kháng sinh được bán ra không có đơn thuốc(Heiman 1 Wertheim, 2013). Phần lớn người dân tự ý mua thuốc kháng sinh, tự điều trị không cần chẩn đoán, không cần kê đơn của bác sĩ. Theo công bốmới nhất của Cục quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế) tại hội thảo về “Sử dụng kháng sinh”, các loại thuốc kháng sinh được bán không theo đơn của bác sĩ chiếm tỉ lệ 88% tại các nhà thuốc ở thành thị và 91% tại các nhà thuốc ở nông thôn(GARP, 2010).
Mặc dù Bộ Ytế cũng đã quy định thuốc kháng sinh phải được bán theo đơn của bác sĩ, nhưng thực tế thuốc kháng sinh có thể được mua rất dễ dàng mà không cần có đơn thuốc. Việc ngăn chặn tình trạng đề kháng kháng sinh đang và sẽ trở thành nhiệm vụ cấp thiết của toàn xã hội.Bệnh nhân, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, quản lý bệnh viện, và các nhà hoạch định chính sách phải làm việc cùng nhau, đề ra các chiến lược hiệu quả cải thiện cách thức sử dụng kháng sinh.Một trong những mục tiêu cụ thể của “Kế hoạch hành động quốc gia chống kháng thuốc 2013-2020” là nâng cao nhận thức cộng đồng.Nhưng để thực hiện được điều đó, chúng ta cần cụ thể hóa một phần bằng cách tiếp cận từ nền giáo dục đại học.Sinh viên đại học là những người trưởng thành mang nhận thức cao và sẽ là cộng đồng trong tương laicủa đất nước.Thông qua sinh viên, chúng ta phần nào có được cái nhìn rõ nét hơn về sự hiểu biết, thói quen, cũng như các yếu tố liên quan đến vấn đề tự ý sử dụng thuốc kháng sinh. Từ đó nhân rộng ra nhận thức chung của cộng đồng và có hướng hành động đúng đắn.Vậy hiện tại, muốn biết nhận thức của sinh viên đang ở mức độnào, nghiên cứu “Khảo sát nhận thức về tự ý sử dụng kháng sinhcủa sinh viên tại trường đại học Tây Đô” được tiến hành. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Khảo sát nhận thức về tự ý sử dụng kháng sinhtrong điều trị bệnh của sinh viên trường Đại học Tây Đô. Khảo sát các yếu tố liên quan đến nhận thức về tự ý dùng kháng sinh trong điều trị bệnh của sinh viên trường Đại học Tây Đô. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát sơ lược về kháng sinh 2.
Định nghĩa kháng sinh Kháng sinh là thuốc chống lại các bệnh nhiễm trùng dovi khuẩn. Kháng sinh có tác dụngtiêu diệt vi khuẩn hoặc kiềm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu. Kháng sinh có nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể tổng hợp bằng phương pháp hoá học, trích từ động vật, thực vật hoặc vi sinh vật(CDC, 2013). Kháng sinh không có bất kì tác dụng nào trêncác bệnhdo vi rút gây ra, chẳng hạn như: cảm lạnh, cảm cúm, ho,viêm họng(trừkhi do Streptoccocus).Nếu vi rút là nguyên nhân gây bệnh, dùng kháng sinh có thể gây hại nhiều hơn ích lợi.
Mỗi khi dùng kháng sinh, vi khuẩn trong cơ thểlại có cơ hội tăng khả năng kháng thuốc. Sau đó, chúng ta có thể bị nhiễm hoặc tự mình lây lannhiễm khuẩndo các loại vi trùng kháng thuốc mà kháng sinh không thể chữa trị được nữa. Ví dụ như vi trùng Staphylococcus aureus kháng Methicillin (MRSA) gây nhiễm trùng có khả năng kháng một số kháng sinh thông thường(MedlinePlus, 2013). Kháng sinh có tác dụng đặc hiệu nghĩa là một loại kháng sinh sẽ tác động lên một loại vi khuẩn hay một nhóm vi khuẩn nhất định.
Như vậy thuốc kháng sinh không có cùng một hoạt tính như nhau đối với tất cả các loại vi khuẩn(Nguyễn Thanh Bảo, 2011). Sử dụng đúng cách, kháng sinh có thể cứu sống con người.Khi dùng kháng sinh,nên tuân thủ đúng theo sự hướng dẫn điều trị.Điều quan trọnglà phải hoàn thành đủ liệu trình kháng sinhngay cả khi bản thân đã cảm thấy khoẻ hơn. Nếu ngừng điều trị quá sớm, một số vi khuẩn có thể vẫn còn tồn tại và gây bệnh trở lại. Không giữ lại kháng sinh sau một đợt điều trị hoặc sử dụng thuốc theo đơn của người khác(MedlinePlus, 2013).
Phân loại kháng sinh Có nhiều cách để phân loại kháng sinh(Đông Thị Hoài Tâm, 2006), (Nguyễn Huỳnh Minh Quyên, 2011): - Dựa vào nguồn gốc: Tự nhiên, tổng hợp, bán tổng hợp. - Dựa vào cấu trúc phân tử: Lipid, peptid, nucleosid. - Dựa vào khả năng tác dụng: Kháng sinh diệt khuẩn, kháng sinh kìm khuẩn. - Dựa vào cơ chế tác dụng: Ức chế tổng hợp thành hay màng tế bào, tổng hợp protein, sao chép gen, ức chế chuyển hoá.
3 - Dựa vào phổ tác dụng: Kháng sinh phổ rộng (tác dụng trên cả vi khuẩn gram âm và gram dương), kháng sinh phổ hẹp (tác dụng trên một loại vi khuẩn), kháng sinh phổ giới hạn (chỉ tác dụng trên vi khuẩnGram dương). Nguyên tắc chung trong sử dụng kháng sinh Chỉ dùng kháng sinh khi bị nhiễm khuẩn Căn cứ vào kết quả khám lâm sàng và cận lâm sàng để có quyết định sử dụng kháng sinh.Nếu không có điều kiện làm xét nghiệm thì phải dựa vào kinh nghiệm của người có chuyên môn để có dự đoán tối ưu về tác nhân gây bệnh như: bị thú vật cắn có thể do Pasteurella multocida, viêm phổi, viêm phế quản có thể do Pneumococcus, Haemophilus Influenzae. Chỉ dùng kháng sinh trong trường hợp nhiễm trùng do tác nhân vi khuẩn: viêm phổi, viêm tai, nhiễm trùng tiểu, viêm mô mềm, nhiễm trùng vết thương… Không dùng kháng sinh cho những bệnh do vi rút gây ra (cúm, sởi, bại liệt…) hoặc do cơ thể suy nhược, thiếu máu, dị ứng, bướu cổ. Chọn đúng kháng sinh Muốn chọn đúng kháng sinh phải xác định đúng nguyên nhân gây bệnh.
Để biết vi khuẩn gây bệnh nhạy cảm với loại kháng sinh nào có thể làm kháng sinh đồ. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng làm kháng sinh đồ. Chỉ làm kháng sinh đồ khi có điều kiện, hoặc ca bệnh nặng, hoặc nghi có đề kháng kháng sinh.Mặt khác phải nắm vững được phổ kháng khuẩn, độc tính, chống chỉ định của các kháng sinh. Tránh lạm dụng các kháng sinh phổ rộng.
Nên chọn các kháng sinh diệt khuẩn cho bệnh nhân nhiễm khuẩn nhẹ và còn sức đề kháng. Chọn dạng thuốc thích hợp Căn cứ vào vị trí và mức độ nhiễm trùng để chọn kháng sinh ở dạng tiêm hay dạng uống. Nên hạn chế sử dụng kháng sinh tại chỗ vì dễ gây dị ứng hoặc hiện tượng kháng kháng sinh. Chỉ nên dùng kháng sinh tại chỗ như nhiễm trùng mắt.
Đối với những nhiễm trùng ngoài da nên dùng thuốc sát khuẩn. Dùng đúng liều lượng Muốn chọn liều dùng kháng sinh, phải căn cứ vào: độ nhạy cảm của vi khuẩn, cơ địa của bệnh nhân: tuổi, cân nặng, bệnh nội khoa mạn tính, suy giảm miễn dịch, yếu tố di truyền, phụ nữ có thai hoặc cho con bú, trẻ em, người già.Bắt đầu dùng kháng sinh từ liều điều trị cần thiết, không được dùng liều nhỏ rồi tăng liều dần lên. Dùng đúng thời gian quy định Thời gian dùng kháng sinh phụ thuộc vào mục đích điều trị.Có thể gợi ý khoảng thời gian trị liệu bằng kháng sinh: - Nhiễm khuẩn thông thường:Dùng kháng sinh từ 5-7 ngày. - Viêm amidan: 1 tuần.
4 - Viêm phổi, phế quản: 2 tuần. - Viêm màng trong tim: 4-6 tuần. - Nhiễm trùng huyết: 4-6 tuần. - Nếu điều trị lao có thể dùng kháng sinh trong 6-18 tháng.
Không nên thay đổi kháng sinh trước thời hạn quy định và nên tuân thủ thời gian dùng kháng sinh cho mỗi loại bệnh lý.Bệnh nhân có thể hết triệu chứng lâm sàng sau vài ngày đầu dùng kháng sinh nhưng không có nghĩa là đã diệt hết tác nhân gây bệnh.