Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 25 năm từ năm 1987 đến năm 2012, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân đạt khoảng 7%/năm. Mức tăng trưởng đạt đỉnh cao nhất vào năm 1995 với 9,5% và chạm đáy ở mức 3,6% vào năm 1987 khi bắt đầu công cuộc Đổi mới. Trong suốt tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự điều hành phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ luôn đóng vai trò là động lực cốt lõi định hình sự ổn định vĩ mô. Tuy nhiên, mức độ tác động tương đối của từng chính sách đối với tăng trưởng sản lượng vẫn là chủ đề gây nhiều tranh luận sâu sắc trong giới học thuật và thực tiễn điều hành.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là kiểm định sự tồn tại và lượng hóa mức độ tác động của chính sách tài khóa đại diện bởi chi tiêu chính phủ và chính sách tiền tệ đại diện bởi cung tiền M2 đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là xác định mối quan hệ cân bằng trong dài hạn lẫn sự biến động ngắn hạn giữa các biến số vĩ mô, đồng thời xem xét vai trò của khu vực ngoại thương thông qua kim ngạch xuất khẩu. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu kinh tế vĩ mô toàn quốc trong 26 năm liên tục từ năm 1987 đến năm 2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bằng chứng định lượng chuẩn xác, hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách thiết lập mục tiêu tăng trưởng GDP bền vững quanh ngưỡng 6,5% đến 7,5%/năm và kiểm soát lạm phát ổn định dưới mức 5%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trụ cột lý thuyết kinh tế vĩ mô nền tảng:

Lý thuyết kinh tế học trường phái Keynes nhấn mạnh vai trò của tổng cầu trong việc quyết định sản lượng quốc gia thông qua công thức tổng quát: Tổng cầu bằng Tiêu dùng cộng Đầu tư cộng Chi tiêu chính phủ cộng Cán cân thương mại. Theo đó, chính sách tài khóa mở rộng thông qua gia tăng chi tiêu công sẽ trực tiếp kích thích tổng cầu và thúc đẩy tăng trưởng sản lượng.

Lý thuyết tiền tệ của trường phái trọng tiền do Milton Friedman khởi xướng khẳng định cung tiền là yếu tố chi phối mạnh mẽ nhất đối với thu nhập danh nghĩa và tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế học như Batten và Hafer năm 1983 đã phát triển phương trình hồi quy dạng St. Louis mở rộng, bổ sung biến số xuất khẩu nhằm phản ánh trung thực đặc trưng của các nền kinh tế có độ mở cao. Khung nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm kinh tế chủ chốt gồm: Cung tiền M2, Chi tiêu ngân sách chính phủ, Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và Hiệu ứng chèn lấn đầu tư tư nhân. Mô hình hàm sản xuất tổng quát được xác lập dưới dạng: GDP phụ thuộc vào M2, Chi tiêu chính phủ và Xuất khẩu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu chuỗi thời gian thứ cấp thu thập thường niên từ 5 tổ chức uy tín gồm: Tổng cục Thống kê Việt Nam, Bộ Tài chính, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 26 quan sát thường niên liên tục trải dài từ năm 1987 đến năm 2012. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là thu thập toàn bộ dữ liệu lịch sử chuẩn hóa của chuỗi thời gian vĩ mô sẵn có nhằm đảm bảo tính bao quát và đại diện cao nhất cho nền kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng xuất phát từ yêu cầu khắc phục hiện tượng hồi quy giả mạo thường gặp trong chuỗi thời gian tài chính theo cảnh báo của Granger và Newbold năm 1974. Tác giả tiến hành kiểm định nghiệm đơn vị bằng phương pháp Augmented Dickey-Fuller và Phillips-Perron để xác định tính dừng của các biến số ở sai phân bậc một. Sau đó, nghiên cứu triển khai kiểm định đồng liên kết Johansen nhằm chứng minh mối quan hệ cân bằng bền vững trong dài hạn, kết hợp ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM và phương pháp bình phương bé nhất OLS để phân tích chính xác tốc độ điều chỉnh cùng các tác động ngắn hạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kiểm định thực nghiệm mang lại 4 phát hiện quan trọng có ý nghĩa thống kê cao với độ tin cậy vượt trên 95%:

Thứ nhất, kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen khẳng định tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn vững chắc giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, cung tiền M2, chi tiêu chính phủ và kim ngạch xuất khẩu.

Thứ hai, chính sách tiền tệ có tác động tích cực và chi phối mạnh mẽ nhất đến tăng trưởng GDP. Trong giai đoạn 2000 đến 2007, khi cung tiền M2 tăng trưởng bình quân 30,3% mỗi năm và tín dụng mở rộng 31,3%/năm, tốc độ tăng GDP bình quân đã đạt mức ấn tượng 7,6%/năm.

Thứ ba, chính sách tài khóa thông qua chi tiêu chính phủ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn nhưng hiệu lực trong dài hạn có phần suy giảm khi tỷ lệ bội chi ngân sách duy trì ở mức cao. Điển hình giai đoạn 1991 đến 1996, khi bội chi ngân sách được kiểm soát chặt chẽ ở mức 2,28% GDP so với mức trên 7% GDP của giai đoạn 1985 đến 1990, nền kinh tế đã tăng trưởng ổn định và lạm phát giảm từ mức đỉnh 67,5% năm 1990 xuống còn 4,5% năm 1996.

Thứ tư, biến số xuất khẩu đóng góp tỷ trọng tích cực và có ý nghĩa thống kê cao, chứng minh vai trò động lực không thể tách rời của thương mại quốc tế đối với nền kinh tế mở Việt Nam.

Thảo luận kết quả

Cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ tại Việt Nam diễn ra nhanh chóng và trực tiếp thông qua kênh tín dụng và thanh khoản ngân hàng. Khi cung tiền gia tăng, lãi suất thực giảm kích thích đầu tư tư nhân và gia tăng sản lượng. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu thực nghiệm của Andersen và Jordan năm 1968, Saibu năm 2007 tại Nigeria, và Ali cùng các cộng sự năm 2008 tại các nước Nam Á khi đều khẳng định cung tiền là công cụ mạnh mẽ hơn chính sách tài khóa.

Tuy nhiên, vai trò của chính sách tài khóa tại Việt Nam vẫn giữ vị trí then chốt như nhận định của Chowdhury năm 1986 và Fatima cùng Iqbal năm 2003, đặc biệt trong các giai đoạn kinh tế suy thoái. Khi phân tích biến động, dữ liệu có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ đường xu hướng kết hợp cột, minh họa rõ nét sự đồng pha giữa nhịp tăng trưởng cung tiền M2 đạt đỉnh 46,1% năm 2007 và đỉnh tăng trưởng GDP đạt 8,5% trong cùng năm. Đồng thời, bảng ma trận hệ số của mô hình ECM mô tả rõ ràng hệ số hiệu chỉnh sai số âm có ý nghĩa thống kê, phản ánh cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế về mức cân bằng dài hạn sau các cú sốc vĩ mô.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, điều hành cung ứng tiền tệ và tín dụng thận trọng, linh hoạt: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 hàng năm ở mức hợp lý từ 12% đến 15%, đồng thời khống chế mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống trong khoảng 14% đến 16%/năm cho giai đoạn 2024 đến 2026. Chủ thể thực hiện là Ngân hàng Nhà nước, hướng tới mục tiêu duy trì thanh khoản cho nền kinh tế mà không tạo áp lực lạm phát vượt ngưỡng 4,5%.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả giải ngân chi tiêu công và siết chặt kỷ luật tài khóa: Bộ Tài chính cần phối hợp với các bộ ngành tái cơ cấu chi tiêu ngân sách, kiểm soát chặt chẽ mức bội chi ngân sách nhà nước dưới ngưỡng 3,5% đến 4% GDP hàng năm. Lộ trình thực hiện từ năm 2024 đến năm 2027 yêu cầu dành tối thiểu 60% tổng chi ngân sách cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông và công nghệ trọng điểm, khắc phục triệt để tình trạng chèn lấn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân.

Thứ ba, thiết lập cơ chế phối hợp liên bộ đồng bộ và kịp thời: Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cùng Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng quy chế chia sẻ dữ liệu vĩ mô hàng quý từ năm 2024. Mục tiêu là ngăn ngừa triệt để sự xung đột chính sách từng xảy ra vào nửa đầu năm 2008 khi thắt chặt tiền tệ đột ngột nhưng lại nới lỏng tài khóa, gây biến động mạnh về lãi suất và nghẽn thanh khoản.

Thứ tư, đẩy mạnh năng lực cạnh tranh xuất khẩu và đa dạng hóa thị trường: Bộ Công Thương chủ trì triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong giai đoạn 2025 đến 2030, hướng đến mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu từ 8% đến 10%/năm, tạo nguồn thu ngoại tệ bền vững và ổn định tỷ giá hối đoái.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm chuyên viên và lãnh đạo hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính: Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể về độ co giãn của cung tiền M2 từng dao động từ 12,1% đến 46,1% và chi tiêu công, giúp các nhà quản lý xây dựng kịch bản điều hành kinh tế vĩ mô phản chu kỳ hiệu quả trong từng giai đoạn phát triển.

Nhóm chuyên gia phân tích kinh tế và nghiên cứu thị trường tại các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và quỹ đầu tư: Tài liệu cung cấp góc nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa thanh khoản hệ thống, lãi suất điều hành và tăng trưởng GDP, phục vụ trực tiếp cho việc dự báo xu hướng thị trường tài chính và tối ưu hóa danh mục đầu tư tài sản có quy mô hàng nghìn tỷ đồng.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng và Kinh tế học: Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng kinh tế lượng chuỗi thời gian 26 năm, từ kiểm định nghiệm đơn vị ADF, kiểm định đồng liên kết Johansen đến mô hình hiệu chỉnh sai số ECM.

Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề: Giúp các nhà quản trị nắm bắt quy luật tác động của chính sách tiền tệ và tài khóa, chủ động dự báo biến động chi phí vốn vay để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trung hạn thích ứng linh hoạt trước mục tiêu lạm phát quốc gia dưới 4,5%.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách tiền tệ hay chính sách tài khóa có tác động mạnh mẽ hơn đến tăng trưởng GDP tại Việt Nam? Kết quả nghiên cứu thực nghiệm giai đoạn 1987 đến 2012 chỉ ra rằng chính sách tiền tệ thông qua cung tiền M2 có tác động chi phối và bền vững hơn so với chi tiêu tài khóa. Điển hình trong giai đoạn 2000 đến 2007, cung tiền M2 tăng trưởng bình quân trên 30%/năm đã trực tiếp kích thích GDP đạt tốc độ tăng trưởng cao từ 7,5% đến 8,5%/năm.

Tại sao luận văn lại đưa thêm biến xuất khẩu vào mô hình nghiên cứu tác động chính sách? Theo nghiên cứu của Batten và Hafer năm 1983, việc bỏ qua biến số ngoại thương tại một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam sẽ dẫn đến hiện tượng sai lệch thống kê nghiêm trọng. Xuất khẩu không chỉ đóng góp trực tiếp vào tổng cầu mà còn là kênh truyền dẫn quan trọng giúp khuếch đại hiệu quả của các gói kích thích tiền tệ và tài khóa.

Hiệu ứng chèn lấn đầu tư tư nhân diễn ra như thế nào khi mở rộng chính sách tài khóa? Khi chính sách tài khóa mở rộng quá mức làm gia tăng bội chi ngân sách vượt ngưỡng 5% GDP, chính phủ buộc phải phát hành khối lượng lớn trái phiếu để vay nợ bù đắp thâm hụt. Việc này đẩy mặt bằng lãi suất thị trường lên cao, từng có thời điểm lãi suất cho vay kịch trần 21%/năm vào năm 2008, trực tiếp làm suy giảm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp tư nhân.

Lý do tác giả sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM thay vì phương pháp hồi quy OLS thông thường là gì? Hầu hết các chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô tại Việt Nam đều không dừng ở bậc gốc mà chỉ dừng ở sai phân bậc một. Việc áp dụng mô hình ECM cho phép khắc phục hoàn toàn hiện tượng hồi quy giả mạo, đồng thời phân tách rõ ràng tác động ngắn hạn và đo lường tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng dài hạn.

Giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2008 đến 2009 mang lại bài học kinh nghiệm vĩ mô gì nổi bật? Sự thiếu nhịp nhàng khi thắt chặt tiền tệ với lãi suất cơ bản nâng lên 14% trong khi tài khóa nới lỏng đầu năm 2008 đã gây xáo trộn lớn. Sau đó, việc phối hợp đồng bộ gói kích cầu 17.000 tỷ đồng và nới lỏng cung tiền năm 2009 đã nhanh chóng giúp GDP phục hồi lên 5,32% và đưa lạm phát từ 23,1% giảm còn 6,88%.

Kết luận

  • Cung tiền M2 là công cụ chính sách tiền tệ có tác động tích cực, mạnh mẽ và ổn định nhất đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn.
  • Chính sách tài khóa thông qua chi tiêu chính phủ đóng vai trò kích cầu ngắn hạn thiết yếu nhưng cần kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ bội chi dưới mức 4% GDP để tránh chèn lấn đầu tư tư nhân.
  • Kim ngạch xuất khẩu là động lực ngoại sinh cốt lõi giúp gia tăng quy mô sản lượng và nâng cao hiệu lực truyền dẫn của các chính sách kinh tế vĩ mô.
  • Sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ và đúng thời điểm giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính là điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng GDP và kiềm chế lạm phát dưới 5%.
  • Phân tích định lượng chuỗi thời gian 26 năm từ năm 1987 đến năm 2012 cung cấp nền tảng thực chứng vững chắc cho công tác điều hành vĩ mô hiện đại.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa thành công mối quan hệ tương hỗ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ tại Việt Nam bằng phương pháp kinh tế lượng chặt chẽ. Trong lộ trình 2025 đến 2030, các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phân tích các biến số mới như tín dụng xanh và thương mại điện tử xuyên biên giới. Độc giả và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn công trình để khai thác trọn vẹn bộ dữ liệu thực nghiệm và hoàn thiện các mô hình phân tích kinh tế vĩ mô chuyên sâu.