phần mở đầu, kết luận, bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về chất lƣợng nhân lực. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Phân tích hoạt động nâng cao chất lƣợng nhân lực tại Kho bạc Nhà nƣớc Hà Nội Chƣơng 4.
Phƣơng hƣớng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lƣợng nhân lực tại Kho bạc Nhà nƣớc Hà Nội 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chất lƣợng nguồn nhân lực là vấn đề hết sức quan trọng trong nền kinh tế của nƣớc ta. Đã có những công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, bài viết về chất lƣợng nhân lực của nhiều tác giả nhƣ: - Lê Văn Khoa, 2008, với đề tài Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hệ thống KBNN”, đề tài nghiên cứu về chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực với đối tƣợng và phạm vi là cả hệ thống KBNN. Đề tài phân tích, đánh giá đƣợc thực trạng về chất lƣợng nguồn nhân lực của hệ thống KBNN Việt Nam, từ đó đƣa ra các giải pháp vĩ mô nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của toàn hệ thống KBNN.
- Bùi Quang Sáng và cộng sự KBNN Thái Nguyền, 2011, với đề tài khoa học “Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý sử dụng công chức tại KBNN cấp huyện – KBNN Thái Nguyên”. Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung và thực tiễn của KBNN Hà Nội nói riêng và cả hệ thống KBNN về công tác quản lý, sử dụng công chức tại KBNN cấp huyện trực thuộc KBNN Hà Nội, qua đó ra đƣợc những giái pháp nhằm quản lý và sử dụng công chức một cách hiệu quả hơn. - Nguyễn Ngọc Quang, 2014, với đề tài Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao chất lượng nhân lực tại KBNN Thái Nguyên”. Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại KBNN Hà Nội, qua đó đƣa ra những giải pháp, kiến nghi, nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại KBNN Hà Nộiđáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đặng Mai Phƣơng, 2015, với đề tài Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực và các hoạt động nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của toàn ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam, qua đó sẽ rút ra 4 những mặt đƣợc, mặt còn tồn tại và đề xuất quan điểm, định hƣớng và các giải pháp để nâng cao chất lƣợng nhân lực đến năm 2020. - Phạm Thị Thu Hƣờng, 2015, với đề tài Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại KBNN Hải Dương”. Đề tài đã khái quát đƣợc các vấn đề lý luận về đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực nói chung và nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực tại KBNN Hải Dƣơng để từ đó đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng công tác đào tạo, bồi đƣỡng nguồn nhân lực KBNN Hải Dƣơng.
Với nội dung nâng cao chất lƣợng nhân lực tại KBNN Hà Nội, hiện nay chỉ có một số bài viết liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực, tuy nhiên các bài viết chỉ gói dọn nội dung bài báo, đề cập đến phạm vi hẹp của KBNN Hà Nội, chƣa đi sâu đánh giá toàn diện thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực và đề xuất quan điểm, định hƣớng và giải pháp để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của KBNN Hà Nội. Vì vậy, đề tài “Nâng cao chất lƣợng nhân lực tại KBNN Hà Nội” là đề tài không trùng lặp với các tài liệu, đề tài khác về lý luận, thực tiễn và nội dung nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Quan niệm về nhân lực Nguồn nhân lực đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ và phạm vi khác nhau.
Xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản, quan niệm của các nƣớc và tổ chức quốc tế về nguồn nhân lực tƣơng đối thống nhất với nhau về bản chất, nội dung và các giới hạn xác định nguồn nhân lực.Mác cũng đề cập tới vấn đề nguồn nhân lực với tƣ cách là con ngƣời trong quá trình sản xuất.Mác viết: "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tƣ liệu lao động nào" (C. Nhƣ thế, phƣơng thức sản xuất chính là cách mà con ngƣời tiến hành sản xuất vật chất, là sự thống nhất giữa lực lƣợng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tƣơng ứng. 5 Lực lƣợng sản xuất của mỗi thời đại hay còn gọi là nền sản xuất của mỗi thời đại là sự thống nhất hữu cơ giữa tƣ liệu sản xuất (trƣớc hết là công cụ lao động) và những ngƣời sử dụng các tƣ liệu này (lực lƣợng lao động, nguồn nhân lực hay nhân tố con ngƣời) sử dụng các tƣ liệu này để sản xuất ra của cải vật chất. Khi nói tới lực lƣợng sản xuất cũng tức là nói tới lực lƣợng lao động, nói tới con ngƣời có thói quen, kinh nghiệm, tri thức và trình độ chuyên môn, nắm đƣợc kỹ thuật, sử dụng đƣợc công cụ lao động để tiến hành sản xuất.
Theo quan niệm của các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển thì nguồn lực nói ở đây là nguồn lực về con ngƣời và đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều khía cạnh, trƣớc hết với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cƣ có cơ thể phát triển bình thƣờng “không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh” (Nguyễn Tiệp, 2005, trang 8). Theo Begg, Fischer và Dornbusch: “Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con ngƣời tích luỹ đƣợc, có khả năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai" (Phạm Thành Nghi, Vũ Hoàng Ngân, 2004, trang 78). Cũng giống nhƣ nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tƣ trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tƣơng lai. Cách hiểu này còn hạn hẹp, chỉ giới hạn trong trình độ chuyên môn của con ngƣời và chƣa đặt ra giới hạn về mặt phạm vi không gian của nguồn nhân lực.
Theo Giáo sƣ, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: xét trên bình diện quốc gia hay địa phƣơng nguồn nhân lực đƣợc xác định là “Tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hay một địa phƣơng sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”(Phạm Thành Nghi, Vũ Hoàng Ngân, 2004, trang 78). Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phƣơng. Một cách chung nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm ngƣời, một tổ chức, một địa phƣơng hay một quốc gia.
Độ tuổi lao động đƣợc qui định cụ thể ở mỗi nƣớc có khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, theo qui 6 định của Bộ luật lao động, tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi. Nhƣ vậy, khái niệm nhân lực theo nghĩa rộng tức là xét trên toàn bộ nền kinh tế có thể đƣợc hiểu ngắn gọn nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phƣơng đã đƣợc chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc (hoặc một vùng, một địa phƣơng cụ thể). Với cách tiếp cận này, nhân lực nhƣ một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia nhƣ nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính.
Theo phạm vi hẹp hơn thì nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của tổ chức do chính bản chất của con ngƣời. Ở mỗi ngƣời đều có năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của ngƣời lãnh đạo, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trƣờng xung quanh. Đối với một tổ chức thì nhân lực trong một tổ chức đƣợc hiểu là tập thể lao động với những năng lực, kiến thức và phẩm chất cần thiết cho quá trình và tồn tại của tổ chức đó, hay là toàn bộ những khả năng lao động mà đơn vị, tổ chức cần và huy động đƣợc cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trƣớc mắt và lâu dài của chính đơn vị đó.
Nhân lực của một tổ chức, một cơ quan quản lý Nhà nƣớc là tập thể công chức bao gồm số lƣợng, chất lƣợng, năng lực hiện có và tiềm năng của tổ chức, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của chiến lƣợc phát triển tổ chức đó trong một thời kỳ nhất định. Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của mỗi công chức có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức. Chất lƣợng nhân lực 1. Khái niệm 7 Nhân lực của một tổ chức còn gần nghĩa với sức mạnh của lực lƣợng lao động, sức mạnh của đội ngũ ngƣời lao động, sức mạnh của đội ngũ CBCC.
Sức mạnh đó đƣợc hợp thành từ sức mạnh tập thể ngƣời lao động, từ khả năng lao động của mỗi ngƣời. Khả năng lao động của một con ngƣời là khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc bao gồm các nhóm yếu tố: sức khoẻ (nhân trắc, độ lớn và mức độ bền bỉ.), trình độ (kiến thức và kỹ năng, kinh nghiệm.), tâm lý, mức độ cố gắng. Nhân lực của tổ chức là đầu vào độc lập, quyết định chất lƣợng, chi phí, thời hạn của các sản phẩm trung gian, sản phẩm bộ phận và các sản phẩm đầu ra. Chất lƣợng nguồn nhân lực của tổ chức là mức độ đáp ứng nhu cầu tốt nhất về nhân lực để duy trì hoạt động của tổ chức, nhằm hoàn thành tốt nhất những mục tiêu, nhiệm vụ của chính tổ chức đó.