Luận văn thạc sĩ: Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ueb hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại bệnh viện bạch mai, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

101
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP

1.1. Tổng quan về Bệnh viện công lập

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm vai trò của Bệnh viện công lập

1.1.2. Đặc điểm, vai trò của các bệnh viện công lập

1.1.3. Phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế

1.1.4. Cơ chế tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập

1.1.4.1. Khái niệm và vai trò của cơ chế tự chủ tài chính
1.1.4.2. Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính
1.1.4.3. Nội dung cơ chế tự chủ tài chính
1.1.4.4. Những đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập của nước ta hiện nay và trong thời gian tới

1.1.5. Vai trò của tự chủ tài chính đối với người thụ hưởng dịch vụ

1.1.6. Kinh nghiệm về quản lý tài chính tại một số nước trên Thế giới – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.1.6.1. Hệ thống bệnh viện công lập thuộc các nước Đông Âu
1.1.6.2. Hệ thống bệnh viện của Mỹ
1.1.6.3. Bài học kinh nghiệm quốc tế đối với các bệnh viện công của Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

2.1. Khái quát đặc điểm hoạt động tại Bệnh viện Bạch Mai

2.2. Quá trình hình thành và phát triển

2.3. Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy

2.4. Chế độ chính sách của Nhà nước liên quan đến cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai

2.5. Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai

2.5.1. Cơ chế huy động, tạo nguồn lực tài chính

2.5.2. Cơ chế quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính

2.5.3. Cơ chế phân phối chênh lệch thu – chi

2.5.4. Cơ chế quản lý tài sản

2.5.5. Cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính

2.5.6. Đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai

2.5.6.1. Những kết quả đạt được
2.5.6.2. Những tồn tại và nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

3.1. Định hướng phát triển của Bệnh viện Bạch Mai

3.1.1. Định hướng phát triển

3.1.2. Các mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản Chiến lược phát triển của Bệnh viện Bạch Mai đến năm 2020

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai

3.2.1. Huy động các nguồn lực tài chính

3.2.2. Nâng cao hiệu quả quản lý chi

3.2.3. Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản

3.2.4. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, kiểm soát tài chính

3.2.5. Vị trí, vai trò của Thủ trưởng đơn vị và kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính

3.3. Một số kiến nghị nhằm thực hiện giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính

3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ

3.3.2. Kiến nghị với Bộ Y tế

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai

Cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Bệnh viện Bạch Mai, một trong những bệnh viện công lập hàng đầu tại Việt Nam, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý tài chính. Việc hoàn thiện cơ chế này không chỉ giúp bệnh viện hoạt động hiệu quả hơn mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho người dân.

1.1. Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính trong y tế

Cơ chế tự chủ tài chính trong y tế được hiểu là khả năng của các bệnh viện công lập trong việc tự quyết định về nguồn thu, chi tiêu và quản lý tài chính. Điều này giúp các bệnh viện có thể linh hoạt hơn trong việc sử dụng nguồn lực tài chính để phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh.

1.2. Vai trò của Bệnh viện Bạch Mai trong hệ thống y tế

Bệnh viện Bạch Mai không chỉ là một cơ sở y tế lớn mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực y tế và nghiên cứu khoa học. Việc hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính sẽ giúp bệnh viện phát huy tối đa vai trò này.

II. Những thách thức trong cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai

Mặc dù đã có những bước tiến trong việc tự chủ tài chính, Bệnh viện Bạch Mai vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu hụt nguồn lực tài chính, quản lý chi tiêu chưa hiệu quả và sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước vẫn tồn tại.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực tài chính

Nguồn lực tài chính của Bệnh viện Bạch Mai chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Điều này dẫn đến sự hạn chế trong việc đầu tư cho cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế.

2.2. Quản lý chi tiêu chưa hiệu quả

Việc quản lý chi tiêu tại Bệnh viện Bạch Mai vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều khoản chi chưa được kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến lãng phí và không đạt hiệu quả cao trong sử dụng nguồn lực.

III. Phương pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai

Để hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính, Bệnh viện Bạch Mai cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện tình hình tài chính mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

3.1. Tăng cường huy động nguồn lực tài chính

Bệnh viện cần tìm kiếm các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước, bao gồm việc hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp để đầu tư vào cơ sở hạ tầng và trang thiết bị.

3.2. Nâng cao hiệu quả quản lý tài chính

Cần áp dụng các công nghệ thông tin trong quản lý tài chính để theo dõi và kiểm soát chi tiêu một cách hiệu quả hơn. Việc này sẽ giúp giảm thiểu lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai

Việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các nghiên cứu cho thấy rằng bệnh viện đã cải thiện được chất lượng dịch vụ và tăng cường khả năng tự chủ tài chính.

4.1. Kết quả đạt được từ cơ chế tự chủ tài chính

Bệnh viện đã có thể tự quyết định về các khoản chi tiêu, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Sự hài lòng của bệnh nhân cũng đã tăng lên đáng kể.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học từ việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai có thể được áp dụng cho các bệnh viện công lập khác trong cả nước, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.

V. Kết luận và tương lai của cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai

Cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai đang trên đà phát triển. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả tối ưu, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng và sự quyết tâm từ ban lãnh đạo bệnh viện.

5.1. Tương lai của cơ chế tự chủ tài chính

Trong tương lai, Bệnh viện Bạch Mai cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân về dịch vụ y tế.

5.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ từ Nhà nước

Cần có các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước để tạo điều kiện cho Bệnh viện Bạch Mai và các bệnh viện công lập khác có thể thực hiện tốt hơn cơ chế tự chủ tài chính.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại bệnh viện bạch mai

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về cơ chế tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập. Chƣơng 2: Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Bạch Mai. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1.

Tổng quan về Bệnh viện công lập 1. Khái niệm, đặc điểm vai trò của Bệnh viện công lập Trong Chƣơng trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính Nhà nƣớc và đơn vị sự nghiệp giai đoạn 2004- 2005 ban hành kèm theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15/01/2004 của Thủ tƣớng Chính phủ đã chỉ ra: đơn vị sự nghiệp là những đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục; khoa học công nghệ; môi trƣờng; y tế; văn hóa nghệ thuật; thể dục thể thao; sự nghiệp kinh tế; dịch vụ việc làm. do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập. Các đơn vị sự nghiệp đƣợc Nhà nƣớc đầu tƣ cơ sở vật chất, bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn đƣợc giao.

Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu, theo đó đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị do Nhà nƣớc thành lập, hoạt động có thu nhằm thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thƣờng của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục; khoa học công nghệ; môi trƣờng; y tế; văn hóa nghệ thuật; thể dục thể thao; sự nghiệp kinh tế; dịch vụ việc làm. Theo khái niệm này, các tiêu chí để xác định đơn vị sự nghiệp có thu đó là: có văn bản ra quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ƣơng hoặc địa phƣơng; đƣợc Nhà nƣớc cấp một phần kinh phí để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu theo quy định của pháp luật; có tổ chức bộ máy, biên 8 chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ hiện hành; có mở tài khoản tại kho bạc Nhà nƣớc. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ đƣa ra khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập.

Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, có tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán), hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục- đào tạo dạy nghề, sự nghiệp y tế, đảm bảo xã hội, sự nghiệp văn hóa thông tin, sự nghiệp thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Nhƣ vậy, khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập mới đƣa ra về cơ bản thống nhất với các khái niệm trƣớc đây. Tuy nhiên việc xóa bỏ khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP cũng là một bƣớc chuyển quan trọng. Theo đó, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính không chỉ áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có nguồn thu mà còn đƣợc áp dụng đối với cả các đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu hoặc có nguồn thu ít.

Đơn vị sự nghiệp y tế công lập là cơ sở y tế công lập thuộc hệ thống y tế quốc dân đƣợc Nhà nƣớc thành lập và đầu tƣ về kinh phí và cơ sở vật chất, hoạt động chủ yếu bằng nguồn NSNN hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi nhằm cung cấp các dịch vụ có chất lƣợng cao phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe và nhu cầu phát triển của đất nƣớc. Bệnh viện công lập là đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế đƣợc xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau: Có văn bản quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ƣơng hoặc địa phƣơng; đƣợc Nhà nƣớc cung cấp kinh phí và tài sản để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu theo quy định của Nhà nƣớc; có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo 9 chế độ Nhà nƣớc quy định; là đơn vị độc lập, có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng mở tại Kho bạc Nhà nƣớc để. Đặc điểm, vai trò của các bệnh viện công lập Các đơn vị bệnh viện công lập hoạt động trong ngành y tế, với quy mô hoạt động khác nhau, đều có một số đặc điểm, vai trò chung nhất định nhƣ: Thứ nhất, đơn vị bệnh viện công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc cung cấp dịch vụ công chứ không vì mục tiêu lợi nhuận. Đây là những đơn vị do Nhà nƣớc thành lập, hoạt động mục tiêu chủ yếu giúp Nhà nƣớc thực hiện vai trò của mình trong việc điều hành các hoạt động kinh tế - văn hoá - xã hội theo hƣớng hiệu quả công bằng.

Nhà nƣớc tổ chức duy trì và tài trợ cho các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp nhằm mục đích cung cấp cho xã hội những sản phẩm dịch vụ đặc biệt để hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thƣờng, nâng cao dân trí, bồi dƣỡng nhân tài, bảo đảm nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và đạt hiệu quả cao hơn, bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống, sức khoẻ, văn hoá, tinh thần của nhân dân. Vì vậy quá trình hoạt động của các đơn vị bệnh viện công lập chủ yếu là cung cấp dịch vụ công thực hiện chức năng và các nhiệm vụ do Nhà nƣớc giao là chính chứ không nhằm mục đích lợi nhuận nhƣ các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Thứ hai, sản phẩm của đơn vị bệnh viện công lập là sản phẩm mang lại lợi ích chung, có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất. Những sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp y tế tạo ra chủ yếu là những sản phẩm có giá trị về sức khoẻ, văn hoá, đạo đức và các giá trị xã hội… Những sản phẩm này là sản phẩm có thể ở dạng vật chất hoặc phi vật chất có thể dùng chung cho nhiều ngƣời.

Nhìn chung, đại bộ phận các sản 10 phẩm của đơn vị sự nghiệp y tế là những sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành một lĩnh vực mà những sản phẩm đó khi tiêu dùng thƣờng có tác dụng lan toả, truyền tiếp. Sản phẩm, dịch vụ của hoạt động sự nghiệp y tế cơ bản là những “hàng hoá công cộng”. Mà “hàng hoá công cộng” có hai đặc điểm cơ bản: “không loại trừ” và “không tranh giành”. Đó là những hàng hoá mà việc tiêu dùng của ngƣời này không loại trừ việc tiêu dùng của ngƣời khác và không có ai có thể can thiệp ngăn chặn việc ngƣời khác sử dụng sản phẩm dịch vụ đó.

Những “hàng hoá công cộng” từ hoạt động sự nghiệp không những có giá trị, giá trị sử dụng mà nó còn có giá trị xã hội rất cao. Việc sử dụng những loại sản phẩm này giúp cho quá trình sản xuất của cải vật chất đƣợc thuận lợi và có hiệu quả hơn. Đối với hoạt động sự nghiệp y tế mang lại sức khoẻ, tri thức, những hiểu biết cần thiết, giúp cho sự phát triển toàn diện của con ngƣời - nhân tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội đất nƣớc. Vì vậy, hoạt động sự nghiệp y tế luôn gắn bó hữu cơ và có tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội.

Thứ ba, hoạt động của đơn vị bệnh viện công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội. Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức duy trì và bảo đảm hoạt động sự nghiệp y tế để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. Để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, Chính phủ thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia nhƣ: Chƣơng trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, Chƣơng trình dân số kế hoạch hoá gia đình, Chƣơng trình phòng chống một số bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS, Chƣơng trình xoá đói giảm nghèo… Với những chƣơng trình mục tiêu quốc gia này chỉ có nhà nƣớc mà cụ thể ở đây là các đơn vị sự nghiệp, bệnh viện công lập mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả bởi nếu để tƣ nhân thực hiện họ sẽ vì mục 11 tiêu lợi nhuận là chính mà không quan tâm nhiều đến mục tiêu xã hội dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng và kìm hãm sự phát triển hiệu quả công bằng xã hội. Thứ tư, các đơn vị bệnh viện công lập có nguồn thu hợp pháp từ hoạt động sự nghiệp y tế Là tổ chức do Nhà nƣớc thành lập thực hiện nghiệp vụ chuyên môn, cung cấp những dịch vụ công nhằm thoả mãn nhu cầu thiết yếu của ngƣời dân.

Nhìn chung nguồn tài chính cơ bản phục vụ cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp này do ngân sách nhà nƣớc cấp. Tuy nhiên với sự đa dạng của hoạt động sự nghiệptrong lĩnh vực y tế cũng nhƣ những khó khăn của NSNN và với mục tiêu để đảm bảo tính hiệu quả trong các hoạt động của các đơn vị bệnh viện, Nhà nƣớc đã cho phép đơn vị sự nghiệp, bệnh viện công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính thông qua việc giao cho họ quyền đƣợc khai thác nguồn thu trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của đơn vị và đƣợc bố trí một số khoản chi một cách chủ động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ