Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển ngành tôm Việt Nam trên sóng truyền hình Chương 2: Thực trạng vấn đề phát triển ngành tôm Việt Nam trên sóng truyền hình khu vực NSH Chương 3: Nâng cao chất lượng thông tin tuyên truyền để phát triển ngành tôm Việt Nam 16 CHƢƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH TÔM VIỆT NAM TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH 1. Một số khái niệm, vấn đề liên quan tới đề tài nghiên cứu 1. Về con tôm và ngành thủy sản tôm Việt Nam Tôm là loài động vật giáp xác, ăn tạp và sống ở môi trường nước bao gồm cả nước ngọt, nước mặn và nước lợ. Đây là loại hải sản có giá trị dinh dưỡng cao đối với sức khỏe con người.
Tôm sống ở tầng đáy và có sẵn trong tự nhiên, có thể đánh bắt được. Tuy nhiên, nguồn tôm thương phẩm phục vụ cho nhu cầu thị trường hiện nay chủ yếu là nguồn tôm được nuôi ở các môi trường khác nhau bởi bàn tay con người [1]. Tôm có nhiều giống loại khác nhau với đặc điểm sinh học, giá trị khác nhau và được khai thác ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam chủ yếu gồm các loại: tôm đất, tôm càng xanh, tôm hùm, tôm sú và tôm chân trắng, v.
và được nuôi và khai thác dọc ven biển các tỉnh từ Bắc vào Nam. Ở ĐBSCL thích hợp nuôi tôm nước lợ với hai loại chính là tôm sú và tôm chân trắng. Tôm là loài thực phẩm gắn bó với Việt Nam từ xa xưa, việc đánh bắt tôm cũng như các loại thủy hải sản khác có sẵn trong tự nhiên đã diễn ra từ lâu đời. Tuy nhiên, việc nuôi tôm đặc biệt là tôm thương phẩm thì mới được thực hiện ở Việt Nam chưa đầy nửa thế kỷ.
Những thử nghiệm nuôi tôm biển đầu tiên diễn ra vào khoảng thập niên 70 của thế kỷ XX, tại miền Bắc Việt Nam với hình thức quảng canh nhưng chưa đạt được hiệu quả mong muốn. Phải đến khi đất nước tiến hành đổi mới (từ năm 1986), quá trình hội nhập đất nước tạo điều kiện cho việc du nhập các giống tôm thương phẩm giá trị cao vào Việt Nam. Nếu năm 1986 chỉ có 16 cơ sở sản xuất tôm giống thì đến năm 2005 ở Việt Nam đã có tới 4. Và cũng từ đó trở đi, số lượng các cơ sở sản xuất chững lại nhưng quy mô mỗi cơ sở lại tăng lên nhanh chóng [38, tr.
17 Tôm chân trắng du nhập vào Việt Nam năm 2001. Đầu tiên được nuôi tại Bạc Liêu nhưng không hiệu quả. Đến tháng 2 năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép nuôi tôm chân trắng như sau: Đối với các tỉnh Đông Nam Bộ và ĐBSCL được nuôi tôm chân trắng theo hình thức thâm canh; các tỉnh từ Quảng Ninh tới Bình Thuận được nuôi theo nhu cầu của các nhà đầu tư và nằm trong vùng quy hoạch của địa phương [29, tr. Tôm sú được sản xuất giống thành công ở miền Trung Việt Nam vào khoảng năm 1984-1985, và đến năm 1997 thì được nuôi trồng rộng rãi ở ĐBSCL.
Đến ngày 5 tháng 6 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 787/QĐ- TTg về việc phê duyệt bổ sung danh mục sản phẩm quốc gia thuộc Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020. Theo đó tôm nước lợ (gồm tôm sú và tôm thẻ chân trắng) nằm trong danh mục sản phẩm quốc gia thực hiện từ năm 2017 thuộc chương trình phát triển sản phẩm đến năm 2020. Đây là một bước ngoặt có ý nghĩa quan trọng đối với chủ trương phát triển ngành tôm ở Việt Nam nói chung và ở ĐBSCL nói riêng. Ngay sau đó, Ngày 18 tháng 10 năm 2017, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 4184/QĐ-BNN-TCTS về việc phê duyệt Đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia tôm nước lợ (gồm tôm sú và tôm thẻ chân trắng) [2], với mục tiêu góp phần phát triển ngành công nghiệp tôm nước lợ có khả năng cạnh tranh trên cơ sở áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, công nghệ tiên tiến gắn với tổ chức lại sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh; Phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.
Như vậy, có thế thấy, sau hơn 20 năm du nhập vào Việt Nam, nghề nuôi tôm dần khẳng định được vị thế, tầm quan trọng của mình trong nền kinh tế đất nước và vươn thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Hiện nay việc khai thác, nuôi trồng tôm ở Việt Nam được quản lý bởi Tổng cục Thủy sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở Trung ương và các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh ở các địa phương. Bên cạnh đó, những người nuôi tôm còn được hỗ trợ bởi Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu 18 thủy sản Việt Nam - tổ chức tự nguyện của các doanh nghiệp hoạt động chế biến và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, nhằm mục đích phối hợp, liên kết hoạt động của các doanh nghiệp, giúp nhau nâng cao giá trị, chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thủy sản Việt Nam, phát triển tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu thủy sản. Năm 2019, Việt Nam cho ra mắt Sàn Giao dịch tôm Việt để tạo ra một sân chơi chuyên nghiệp cho ngành tôm Việt Nam hội nhập quốc tế.
Truyền hình Thuật ngữ truyền hình (televison) có nguồn gốc La tinh và tiếng Hi Lạp, có nghĩa là xem được ở xa. Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc. Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế-xã hội và an ninh quốc phòng [24, tr.
Ở mỗi khía cạnh khác nhau và các tiêu chí, người ta có thể chia thành truyền hình sóng và truyền hình cáp, truyền hình công cộng và truyền hình thương mại, truyền hình tương tự và truyền hình số, truyền hình trung ương và truyền hình địa phương, v. Truyền hình mặc dù là một loại hình báo chí, nhưng bên cạnh các đặc điểm chung của báo chí thì còn mang một số đặc trưng của truyền hình như tính thời sự, tính phổ cập và quảng bá, khả năng thuyết phục công chúng, đặc trưng hình ảnh âm thanh và khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân. Từ giữa thập niên 60 của thế kỷ XX, Đài Tiếng nói Việt Nam đã lên phương án xây dựng vô tuyến truyền hình. Nhiều đoàn cán bộ, chuyên gia Việt Nam được cử ra nước ngoài để học tập kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa về làm truyền hình.
Ngày 7 tháng 9 năm 1970, chương trình truyền hình đầu tiên của Việt Nam mới lên sóng. Trong nửa thế kỷ qua, Truyền hình Việt 19 Nam không những xây dựng và trưởng thành để thực sự trở thành một kênh thông tin uy tín và chất lượng với quần chúng nhân dân [24, tr. Đài truyền hình là một tổ chức pháp nhân có bộ máy tổ chức ổn định, có cán bộ quản lý, cán bộ biên tập, cán bộ phóng viên và cán bộ kỹ thuật, v.; Có các phương tiện kỹ thuật phát sóng cần thiết và có chương trình hoạt động hiện có tại một thời điểm nhất định; Chịu sự quản lý nhà nước về báo chí, về truyền dẫn và phát sóng của Bộ Thông tin và Truyền thông, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng [22, tr. Kênh truyền hình là một dải tần số được phát sóng trên một kênh tần số thông qua một đài truyền hình.
Kênh truyền hình tập hợp các chương trình truyền hình được bố cục chặt chẽ, đảm bảo những nguyên tắc chung về nội dung và hình thức, hình thành được thế giới quan khoa học, tập hợp và thống nhất các thành viên của xã hội, được thể hiện một cách linh hoạt, sáng tạo phù hợp với nhiệm vụ chính trị và nhu cầu của công chúng [22, tr. Truyền hình địa phương Hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại hai mô hình đài truyền hình là đài truyền hình chỉ thực hiện chức năng báo hình như Đài truyền hình Việt Nam, Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và các đài vừa thực hiện chức năng báo nói, báo hình và thông tin điện tử như các đài PT - TH địa phương. Thông tư liên tịch số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV ngày 27 tháng 7 năm 2010 hướng dẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đài PT - TH thuộc uy ban nhân dân cấp tỉnh và đài PT - TH thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện, theo đó đài PT - TH thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là đài PT - TH cấp tỉnh) là đơn vị sự nghiệp thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thực hiện chức năng cơ quan báo chí của đảng bộ, chính quyền tỉnh; đài PT - TH cấp tỉnh chịu sự quản lý nhà nước về báo chí, về truyền dẫn và phát sóng của Bộ Thông tin và Truyền thông; Sở Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước trên địa bàn theo phân công của ủy 20 ban nhân dân cấp tỉnh; Đài PT - TH cấp tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng [5]. Nhiệm vụ của các đài truyền hình là sản xuất và phát sóng các chương trình phát thanh, các chương trình truyền hình, nội dung thông tin trên trang thông tin điện tử; Trực tiếp vận hành, quản lý, khai thác hệ thống kỹ thuật chuyên ngành để sản xuất chương trình, truyền dẫn tín hiệu và phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình của địa phương và quốc gia; Được cấp ngân sách và được phép tổ chức các hoạt động quảng cáo, kinh doanh, dịch vụ, tiếp nhận sự tài trợ, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Nguồn thu quảng cáo và dịch vụ truyền hình được cấp trở lại đầu tư cho các đài truyền hình.