CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH 1. QUAN NIỆM VỀ TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH 1. Quan niệm về triết lý Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Triết lý là quan niệm chung và sâu sắc nhất của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội” [68, tr. 1707], là những quan điểm, quan niệm được con người rút ra từ thực tiễn cuộc sống của mình có tác dụng chỉ dẫn, định hướng cho hành động của con người.
Bàn về khái niệm triết lý, các nhà nghiên cứu ở nước ta cho rằng, tuy ở phương Tây không có sự phân biệt giữa triết lý và triết học, nhưng trong tiếng Việt lại quan niệm đó là những khái niệm khác nhau, dùng để biểu đạt và phản ánh những đối tượng khác nhau, mức độ nhận thức khác nhau. Các tác giả sách Triết lý phát triển ở Việt Nam – Mấy vấn đề cốt yếu nêu định nghĩa: Triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội. Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy [48, tr. Bên cạnh đó, các tác giả sách Triết lý phát triển C.
Lênin và Hồ Chí Minh nêu quan điểm: Triết lý có thể thể hiện bằng một mệnh đề hàm súc những ý nghĩa về nhân tình thế thái; về tự nhiên, về xã hội; nó cũng có thể là một hệ mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết. Triết lý đúng và khoa học thì nó trở thành cơ sở lý luận khoa học cho một hệ thống Luan van 7 quan điểm, học thuyết; nó làm công cụ lý thuyết cho hành động hiệu quả của con người [39, tr. Triết lý khác với triết học. Triết học là một khoa học.
Triết học là hạt nhân của thế giới quan, là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó. Nội dung mà nó có được là nhờ nghiên cứu nghiêm túc, với phương pháp đặc thù, xác định. Triết học tìm tòi những quy luật chung nhất, bao quát nhất của tự nhiên và xã hội. Còn triết lý lại khác, triết lý mang đậm dấu ấn của cộng đồng người, triết lý được rút ra từ những trải nghiệm của cuộc sống.
Trải nghiệm càng sâu, càng rộng thì tính triết lý càng cao. Như vậy, so với triết học, triết lý có thể được hiểu ở trình độ thấp hơn, chỉ là cơ sở lý luận của một hệ thống quan điểm, một học thuyết và theo nghĩa ở mức độ cao, nó chính là những quan niệm, tư tưởng sâu sắc nhất của con người về các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhưng dù hiểu theo cách nào, cũng có thể thấy rằng, triết lý không phải là một cái gì duy tâm, siêu hình, mà nó là kết quả của những kinh nghiệm và lẽ sống của nhiều thế hệ đi trước đúc kết lại. Tất nhiên, triết lý nào cũng vừa có tính giai cấp vừa có tính lịch sử.
Quan niệm về triết lý nhân sinh “Nhân sinh là cuộc sống con người” [68, tr. “Nhân sinh có thể gồm có ba ý nghĩa: sinh mệnh của con người, cuộc sống của con người và phương hướng của con người” [9, tr. Triết lý nhân sinh là quan niệm chung và sâu sắc nhất của con người về cuộc sống của con người. Triết lý nhân sinh được đúc kết từ thực tiễn nên thường có tính đúng đắn, phù hợp.
Triết lý nhân sinh nhìn nhận con người là một hiện hữu, chấp nhận đời sống của con người là một thực tại sinh tồn. Triết lý nhân sinh tự vấn con người sống để làm gì? Đời sống con người có giá trị và Luan van 8 có ý nghĩa gì? Đời sống có đáng sống hay không? Tự giải thoát ra khỏi cuộc đời hay dấn thân vào cuộc đời, đó là hai thái độ căn bản của con người trước đời sống. Triết lý nhân sinh có sức mạnh định hướng cho cách đối nhân xử thế, cho hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng. Chính vì vậy, hình thành những triết lý nhân sinh đúng đắn, phù hợp là mục tiêu hàng đầu của giáo dục ở mọi quốc gia.
KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ NỘI DUNG CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH 1. Khái niệm truyện cổ tích Theo Từ điển thuật ngữ văn học, Truyện cổ tích là một loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (gia đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp quyết liệt [32, tr. Truyện cổ tích là loại truyện xuất hiện từ rất xưa, chủ yếu do các tầng lớp bình dân sáng tác. Truyện cổ tích trình bày – với một phong cách thường kết hợp hiện thực với lãng mạn – cuộc sống với những con người trong những tương quan của xã hội có giai cấp (quan hệ địa chủ với nông dân, quan lại với nhân dân; quan hệ gia đình, quan hệ thầy trò…).
Khái quát hiện thực xã hội, truyện cổ tích trình bày con người với tư cách “tổng hòa những quan hệ xã hội”. Nhưng yếu tố lãng mạn phản ánh nguyện vọng, ước mơ của nhân dân – là ở chỗ tác giả không chỉ trình bày cái hiện có mà còn trình bày cái chưa có và cái có thể có. Chính do sự kết hợp hai yếu tố đó trong việc phản ánh hiện thực mà dáng dấp thường thấy của truyện cổ tích là sự trình bày cuộc sống trong trạng Luan van 9 thái động của nó, phù hợp với quy luật phát triển nội tại của nó, và phù hợp với nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân về cuộc sống đó. Có nhiều người nhầm lẫn giữa ba thể loại sáng tác dân gian: truyện cổ tích, thần thoại và truyền thuyết.
Thực ra, giữa chúng có sự khác biệt căn bản. Thần thoại (hay còn gọi là huyền thoại) Là thể loại truyện ra đời và phát triển sớm nhất trong lịch sử truyện kể dân gian các dân tộc. Đó là toàn bộ những truyện hoang đường, tưởng tượng về các vị thần hoặc những con người, những loài vật mang tính chất thần kỳ, siêu nhiên do con người thời nguyên thủy sáng tạo ra để phản ánh và lý giải các hiện tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội theo quan niệm vạn vật có linh hồn (hay thế giới thần linh) của họ [32, tr. Như vậy, “xét về đối tượng phán ánh thì thần thoại chủ yếu hướng vào các hiện tượng tự nhiên” [62, tr.
Truyền thuyết “là một thể loại sáng tác dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kỳ, một bộ tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương” [62, tr. Khác với thần thoại, “đối tượng phán ánh của truyền thuyết là các sự kiện lịch sử” [32, tr. Như vậy, đối tượng phản ánh của thần thoại và truyền thuyết khác với truyện cổ tích. Thần thoại phản ánh các hiện tượng tự nhiên, các vị thần; truyền thuyết phản ánh các sự kiện, nhân vật lịch sử; còn truyện cổ tích phản ánh những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người.
Đôi khi, trong một số truyện cổ tích, ta cũng bắt gặp các chi tiết mang tính thần thoại hoặc truyền thuyết. Tuy nhiên, các yếu tố đó chỉ là một phương tiện nghệ thuật thứ yếu và nhiều khi chỉ được dùng như những họa tiết hoặc cái “đường viền” trang trí để làm cho câu chuyện thêm ly kỳ, hấp dẫn mà thôi. Phân loại truyện cổ tích Truyện cổ tích có nội dung rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực: truyện nói về người, truyện nói về vật, về ma quỷ, về Tiên, Phật, Thần, Thánh. Cho nên, việc phân loại truyện cổ tích được nhiều nhà nghiên cứu đặt ra và có nhiều quan điểm khác nhau.
Thực ra đối với truyện cổ tích, bất kỳ một sự phân loại nào cũng chỉ có ý nghĩa chính xác tương đối. Theo Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì truyện cổ tích được chia làm ba loại: - Truyện cổ tích thần kỳ; - Truyện cổ tích sinh hoạt (hay cổ tích thế sự); - Truyện cổ tích loài vật. Truyện cổ tích thần kỳ Theo Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Truyện cổ tích thần kỳ là bộ phận quan trọng và tiêu biểu nhất của thể loại cổ tích. Ở loại truyện này, nhân vật chính vẫn là con người trong thực tại, nhưng các lực lượng thần kỳ, siêu nhiên có một vai trò quan trọng.
Hầu hết mọi xung đột trong thực tại giữa người với người đều bế tắc, không thể giải quyết nổi nếu thiếu yếu tố thần kỳ [32, tr. Loại truyện này thường dùng những lực lượng siêu tự nhiên để mở nút câu chuyện mà không cần biết có hợp lý hay không. Nó kích thích trí tưởng tượng của người nghe, người đọc bằng cách đem một thế giới không thực thay thế cho thế giới có thực. Mà trong thế giới không thực đó lại bao gồm những cái nên xảy ra, đáng lẽ phải xảy ra.
Cho nên, chính nó còn giúp người ta hiện thực hóa những ước muốn không tưởng, nghĩa là chỉ trong khoảnh khắc có thể quên bẵng những cái đang xảy ra giữa cõi đời thực để nhập thân vào một thế Luan van 11 giới hoàn toàn xa lạ nhưng vốn có những điểm đồng cảm về lý tưởng thẩm mỹ với chính mình. Lực lượng thần kỳ, siêu tự nhiên ở trong truyện cổ tích Việt Nam rất phong phú, đa dạng, bao gồm các nhân vật thần kỳ như: Tiên, Bụt, Thần linh, Diêm vương; các con vật siêu nhiên như: trăn thần, rắn thần, yêu tinh, hồ tinh; các vật thiêng có phép lạ như: gậy thần, đàn thần, cung thần, niêu cơm thần, chiếc áo tàng hình… Lực lượng thần kỳ nảy sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau, như quan niệm thần linh trong thần thoại, sự tín ngưỡng của nhân dân, ảnh hưởng của tôn giáo… nhưng được nhào nặn lại theo quan niệm và lý tưởng thẩm mỹ của tác giả truyện cổ tích.