Giáo trình Triết học: Khái luận về Triết học và Lịch sử Triết học (Dùng cho học viên Cao học)

Trường đại học

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2005

448
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình triết học sau đại học

Giáo trình triết học sau đại học là tài liệu học thuật được Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn, dành riêng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không chuyên ngành triết học. Tài liệu này cung cấp hệ thống tri thức lý luận chung nhất về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó. Giáo trình trình bày các khái niệm triết học từ gốc Hán, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Triết học theo gốc chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng. Theo người Ấn Độ, triết học là darshana, nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí. Theo chữ Hy Lạp, triết học là philosophia, nghĩa là yêu thích sự thông thái. Giáo trình cũng đề cập đến đối tượng nghiên cứu của triết học qua các thời kỳ lịch sử. Từ thời cổ đại, triết học bao trùm mọi lĩnh vực tri thức. Thời Trung cổ, triết học phục vụ thần học. Thời cận đại, triết học tách khỏi thần học và trở thành nền tảng cho khoa học hiện đại.

1.1. Nguồn gốc và khái niệm triết học

Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI trước công nguyên. Các thành tựu rực rỡ xuất hiện tại Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Mỗi nền văn hóa hiểu triết học theo cách riêng. Phương Đông nhấn mạnh bản chất và đạo lý. Phương Tây coi trọng trí tuệ và chân lý. Điểm chung là tất cả đều xem triết học là đỉnh cao của nhận thức con người. Triết học tìm ra các quy luật chi phối tự nhiên, xã hội và bản thân con người.

1.2. Đối tượng nghiên cứu qua các thời kỳ

Đối tượng nghiên cứu của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Thời cổ đại, triết học bao hàm toàn bộ tri thức khoa học. Ở Trung Hoa, triết học gắn với chính trị xã hội. Ở Ấn Độ, triết học gắn liền với tôn giáo. Ở Hy Lạp, triết học gắn với khoa học tự nhiên. Thời Trung cổ, triết học trở thành công cụ lý giải kinh thánh. Thời cận đại, triết học tách khỏi thần học. Các nhánh nhận thức luận, đạo đức học, mỹ học dần hình thành rõ nét.

II. Phân tích nội dung triết học phương Đông trong giáo trình

Giáo trình triết học sau đại học trình bày nội dung triết học phương Đông một cách hệ thống. Triết học Ấn Độ cổ trung đại tập trung vào nhiều vấn đề then chốt. Vấn đề bản thể luận được các trường phái quan tâm hàng đầu. Họ giải thích mối quan hệ giữa Brahman và Atman. Brahman là thực thể duy nhất, có trước, bất diệt, sinh ra tất cả sự vật hiện tượng. Atman là linh hồn con người, là một bộ phận của Brahman. Triết học Ấn Độ cũng rất quan tâm đến vấn đề con người và cuộc sống. Do ảnh hưởng tư tưởng luân hồi, các nhà tư tưởng cho rằng nguyên nhân đau khổ nằm trong nhận thức, gọi là Vô minh. Hầu hết các trường phái giải quyết nhân sinh bằng con đường giải thoát mang màu sắc duy tâm. Về nhận thức, con đường đạt tới tri thức phải qua Thiền. Thiền là con đường trực giác thực nghiệm tâm linh. Triết học Trung Hoa cũng có những đóng góp quan trọng với các học thuyết Khổng Tử, Lão Tử, Phật giáo.

2.1. Triết học Ấn Độ và vấn đề bản thể luận

Vấn đề bản thể luận trong triết học Ấn Độ có từ thời sơ khai. Hai quan điểm đối lập nhau xuất hiện rõ ràng. Một bên coi thế giới bị chi phối bởi nguyên lý phi nhân cách. Bên kia quan niệm Thượng đế nhân cách hóa điều khiển vũ trụ. Các trường phái triết học Ấn Độ tập trung vào mối quan hệ Brahman với Atman. Brahman là thực thể tối cao, sinh ra tất cả. Atman là linh hồn bất tử, cần giải thoát khỏi vòng luân hồi. Quan điểm này ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh phương Đông.

2.2. Vấn đề con người và nhận thức trong triết học phương Đông

Triết học phương Đông đặc biệt quan tâm đến con người và cuộc sống. Ở Ấn Độ, nguyên nhân đau khổ được giải thích qua khái niệm Vô minh. Con đường giải thoát là mục tiêu cao nhất của hầu hết trường phái. Về nhận thức, Thiền được coi là phương pháp chủ yếu. Thiền là con đường trực giác thực nghiệm tâm linh. Con người nhận ra chân bản qua thiền định. Triết học Trung Hoa nhấn mạnh tu thân, tề gia, trị quốc. Đạo đức và nhân sinh là trung tâm của triết lý phương Đông.

III. Phương pháp học tập giáo trình triết học cao học hiệu quả

Học tập giáo trình triết học cao học đòi hỏi phương pháp khoa học và kiên trì. Trước hết, cần đọc kỹ toàn bộ giáo trình để nắm cấu trúc tổng thể. Mỗi chương cần được phân tích riêng biệt. Ghi chú các khái niệm cốt lõi là bước quan trọng. Các khái niệm như bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức học cần được hiểu rõ. Thứ hai, so sánh các trường phái triết học giúp mở rộng tư duy. Triết học phương Đông và phương Tây có nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Việc so sánh giúp hiểu sâu hơn bản chất từng học thuyết. Thứ ba, liên hệ thực tiễn là cách học hiệu quả nhất. Triết học không phải lý thuyết trừu tượng xa rời đời sống. Các nguyên lý triết học áp dụng được vào nghiên cứu khoa học chuyên ngành. Thứ tư, thảo luận nhóm giúp làm rõ các vấn đề phức tạp. Trao đổi quan điểm khác nhau tạo ra nhận thức toàn diện hơn. Cuối cùng, luyện tập viết luận triết học rèn kỹ năng tư duy logic.

3.1. Xây dựng hệ thống kiến thức nền tảng

3.2. Áp dụng phương pháp học tập chủ động

IV. Kết luận và ứng dụng triết học trong nghiên cứu sau đại học

Giáo trình triết học sau đại học đóng vai trò quan trọng trong đào tạo cao học. Triết học cung cấp nền tảng phương pháp luận cho mọi nghiên cứu khoa học. Người học tiếp cận được hệ thống tri thức lý luận chung nhất về thế giới. Các phạm trù triết học như nguyên nhân, kết quả, tất nhiên, ngẫu nhiên hỗ trợ phân tích vấn đề nghiên cứu. Phương pháp biện chứng giúp tư duy logic và toàn diện hơn. Triết học cũng mở rộng hiểu biết về lịch sử tư tưởng nhân loại. Từ triết học cổ đại Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp đến triết học hiện đại. Mỗi giai đoạn để lại bài học quý giá cho nghiên cứu đương đại. Ứng dụng triết học trong nghiên cứu chuyên ngành tạo ra chiều sâu học thuật. Nghiên cứu sinh biết cách đặt vấn đề, phân tích và tổng hợp có hệ thống. Giáo trình triết học thực sự là hành trang không thể thiếu cho học viên sau đại học.

4.1. Vai trò của triết học trong đào tạo sau đại học

4.2. Ứng dụng thực tiễn của triết học trong đời sống

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ___________ GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC (Dùng cho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học) Hà Nội - 2005 1 Chƣơng 1 KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC I. KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC 1. Khái niệm triết học và đối tƣợng nghiên cứu của triết học a) Khái niệm triết học. Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thức VI trước công nguyên với các thành tựu rực rỡ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Triết học, theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến đạo lý của sự vật. Theo người Ấn Độ, triết học là darshana. Điều đó có nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. Theo chữ Hy Lạp, triết học là philosophia, có nghĩa là yêu thích sự thông thái. Nhà triết học được coi là nhà thông thái, có khả năng nhận thức được chân lý, làm sáng tỏ được bản chất của sự vật. Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, khi triết học mới ra đời, đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân lý, được quy luật, được bản chất của sự vật. Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học. Trong các quan điểm khác nhau đó vẫn có những điểm chung. Đó là, tất cả các hệ thống triết học đều là hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tính chỉnh thể của nó, tìm ra các quy luật chi phối trong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã hội và bản thân con người. Khái quát lại, có thể hiểu. Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó. b) Đối tượng của triết học Triết học ra đời từ thời cổ đại. Từ đó đến nay, triết học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Trong quá trình phát triển đó, đối tượng của triết học cũng thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. 2 Thời cổ đại, khi mới bắt đầu có sự phân chia giữa lao động trí óc với lao động chân tay, tri thức của loài người còn rất ít, chưa có sự phân chia giữa triết học với các khoa học khác, mà tất cả tri thức khoa học đều gọi là triết học. Ở Trung hoa, triết học gắn liền với những vấn đề chính trị- xã hội; ở Ấn Độ, triết học gắn liền vơi tôn giáo; ở Hy Lạp. triết học gắn liền với khoa học tự nhiên và gọi là triết học tự nhiên. Cũng vì vậy, khi đó đối tượng nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vực tri thức. Đây cũng là nguyên nhân sâu xa về sau dẫn đến quan niệm cho rằng: "Triết học là khoa học của các khoa học". Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, đặt nền móng cho sự phát triển về sau không chỉ đối với triết học mà còn đối với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Thời Trung cổ ở Tây Âu, do sự thống trị của Giáo hội thiên chúa giáo trên mọi mặt của đời sống xã hội, triết học trở thành đầy tớ của thần học. Nhiệm vụ của triết học khi đó là lý giải và chứng minh tính đúng đắn của các nội dung trong kinh thánh. Triết học đó gọi là triết học kinh viện. Với khuôn khổ chật hẹp của đêm trường Trung cổ, triết học phát triển rất chậm chạp. Vào thế kỷ XV- XVI, khi trong lòng xã hội phong kiến các nước Tây Âu xuất hiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khoa học tự nhiên phát triển. Khi đó, triết học duy vật phát triển gắn liền với yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản và sự phát triển của khoa học tự nhiên. Đặc biệt, đến thế kỷ XVII- XVIII, khi cách mạng tư sản nổ ra ở các nước Tây Âu, khi khoa học tự nhiên diễn ra quá trình phân ngành sâu sắc và đạt được nhiều thành tựu, nhất là cơ học Niutơn, triết học duy vật phát triển mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII- XVIII là chủ nghĩa duy vật Anh, Pháp, Hà Lan với các đại biểu như Ph. Vào thời kỳ này, mặc dầu khoa học tự nhiên đã hình thành các bộ môn khoa học độc lập, nhưng triết học vẫn gắn liền với khoa học tự nhiên, chưa xác định rõ đối tượng nghiên cứu của riêng mình. Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi mà Anh, Pháp đã là nước tư bản, thì nước Đức còn là một nước phong kiến, giai cấp tư sản đang hình thành. Trước ảnh hưởng của Anh, Pháp và yêu cầu phát triển của giai cấp tư sản Đức, triết học Đức đã phát triển mạnh mẽ nhưng trên lập trường duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen. Hêghen xem triết học của mình là 3 một hệ thống phổ biến của tri thức khoa học, mà trong đó các ngành khoa học cụ thể chỉ là những móc khâu của triết học. Triết học Hêghen là hệ thống triết học cuối cùng xem triết học là "khoa học của các khoa học". Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, trước yêu cầu cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và sự phát triển của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ, triết học Mác đã ra đời. Triết học Mác đã đoạn tuyệt với quan niệm "triết học là khoa học của các khoa học" và xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất với ý thức trên lập trường duy vật; nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của con người nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội theo con đường tiến bộ. Với sự phát triển đầy mâu thuẫn trong xã hội tư bản, với những thành tựu trong cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại, ở các nước tư bản hiện đại đã xuất hiện nhiều trào lưu triết học khác nhau mà ta gọi là "triết học phương Tây hiện đại". Đó là các trào lưu triết học duy khoa học, trào lưu triết học nhân bản phi lý tính, trào lưu triết học tôn giáo. Vấn đề cơ bản của triết học và các trƣờng phái triết học. a) Vấn đề cơ bản của triết học. Ăng ghen, ngay từ thời cổ xưa, con người đã gặp phải vấn đề quan hệ giữa linh hồn với thể xác của con người. Từ việc giải thích những giấc mơ, người ta đi đến quan niệm về sự tách rời giữa linh hồn với thể xác, về sự bất tử của linh hồn. Như vậy, ngay từ thời đó, con người phải suy nghĩ về mối quan hệ giữa linh hồn với thế giới bên ngoài. Từ khi triết học ra đời, vấn đề đó được tiếp tục nghiên cứu giải quyết nhưng trên cơ sở khái quát cao hơn, đó là mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại , giữa tinh thần với tự nhiên, giữa ý thức với vật chất. Đó chính là vấn đề cơ bản của triết học. Ăng ghen viết: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại". 1 Vấn đề mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại, hay giữa ý thức với vật chất được gọi là "vấn đề cơ bản lớn" của triết học vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học. Việc giải quyết vấn đề này là tiêu chuẩn để phân chia các trường phái triết học trong lịch sử. Ăng ghen Toàn tập, tập 21, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2004, tr. 403 4 Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: -Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? -Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Căn cứ vào cách giải đáp hai mặt đó của vấn đề cơ bản mà các nhà triết học được chia thành các trường phái khác nhau. b) Các trường phái triết học - Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Căn cứ vào cách giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, các nhà triết học được chia làm hai trường phái chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. + Chủ nghĩa duy vật cho rằng, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức. Chủ nghĩa duy vật được thể hiện ba hình thức lịch sử cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật. Vào thời kỳ này, khoa học tự nhiên mới hình thành cho nên các quan điểm duy vật được hình thành dựa trên cơ sở trực quan, trực giác nên mang tính mộc mạc, chất phác. Khi đó, các nhà duy vật giải thích thế giới vật chất bằng cách đi tìm một hay một số sự vật ban đầu, từ đó sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới. Mặc dù còn mang tính mộc mạc, chất phác của nó, nhưng chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đã xuất phát từ bản thân giới tự nhiên để giải thích tự nhiên, không viện đến thần linh, thượng đế. Hình thức thứ hai của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại (Thế kỷ XVII- XVIII) ở các nước Tây Âu. Nó là thế giới quan của giai cấp tư sản cách mạng chống lại thế giới quan duy tâm, tôn giáo của giai cấp phong kiến. Dựa trên những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đã có một bước phát triển so với chủ nghĩa duy vật thời cổ đại. Tuy nhiên, do hạn chế bởi trình độ khoa học và lợi ích giai cấp, cho nên duy vật chưa triệt để và mang tính chất siêu hình, máy móc. 5 Hình thức thứ ba của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Ăng ghen sáng lập ra và không ngừng phát triển gắn liền với thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và các thành tựu của khoa học hiện đại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ