Giáo trình Triết học - Khối không chuyên ngành (Thạc sĩ, Tiến sĩ) - Bộ GD&ĐT

Giáo trình triết học dành cho học viên cao học theo chuẩn đầu ra khối khoa học tự nhiên. Tài liệu học tập và nghiên cứu chuyên sâu.

Trường đại học

Bộ Giáo dục và Đào tạo

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2015

234
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình triết học khối không chuyên ngành triết học

Giáo trình Triết học dành cho khối không chuyên ngành triết học được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo Thông tư số 08/2013/TT-BGDĐT. Tài liệu phục vụ đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật phát hành năm 2015 tại Hà Nội. Giáo trình gồm bốn chương chính. Chương một giới thiệu khái luận về triết học. Chương hai trình bày triết học Mác - Lênin. Chương ba phân tích mối quan hệ giữa triết học và các khoa học. Chương bốn đề cập vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển xã hội. Nội dung được biên soạn theo hướng cập nhật kiến thức mới. Phương pháp tiếp cận phát huy tính tích cực, chủ động của người học. Giáo trình liên hệ thực tiễn với các chuyên ngành khoa học tự nhiên và công nghệ. Ban biên soạn gồm các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đầu ngành. Đây là tài liệu thiết yếu cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không chuyên triết học.

1.1. Đối tượng và mục tiêu sử dụng giáo trình

Giáo trình hướng đến học viên cao học và nghiên cứu sinh các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ không thuộc chuyên ngành triết học. Mục tiêu trang bị nền tảng triết học vững chắc cho người học. Kiến thức giúp vận dụng phương pháp luận vào nghiên cứu chuyên môn. Giáo trình cũng phục vụ giảng viên các trường đại học, học viện, cao đẳng chuyên ngành lý luận chính trị. Ngoài ra, tài liệu hỗ trợ độc giả quan tâm đến triết học nói chung. Người học tiếp cận triết học từ góc độ khoa học thực nghiệm. Phương pháp giảng dạy tích cực, chủ động được khuyến khích. Liên hệ thực tiễn với các ngành kỹ thuật, y học, nông nghiệp là trọng tâm.

1.2. Cấu trúc và nội dung bốn chương chính

Chương một trình bày khái niệm triết học, đối tượng nghiên cứu và chức năng của triết học. Người học nắm bắt bản chất của nhận thức triết học. Chương hai giới thiệu triết học Mác - Lênin với phép biện chứng duy vật và lịch sử duy vật. Đây là nền tảng lý luận cốt lõi. Chương ba phân tích mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa học tự nhiên. Sự tác động qua lại giữa hai lĩnh vực được làm rõ. Chương bốn đề cập vai trò thúc đẩy phát triển xã hội của khoa học công nghệ. Mỗi chương có hệ thống bài tập và câu hỏi thảo luận. Cấu trúc logic giúp người học tiếp cận từ tổng quan đến chuyên sâu.

II. Phân tích nội dung triết học phương Đông và phương Tây trong giáo trình

Giáo trình trình bày hệ thống triết học phương Đông và phương Tây một cách có hệ thống. Triết học phương Tây bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại với các trường phái lớn. Triết học phương Đông mang đặc trưng riêng biệt của Trung Quốc và Ấn Độ. Ở Ấn Độ cổ đại, triết học phát triển trong bối cảnh địa lý đa dạng. Nền văn minh sông Ấn xuất hiện từ thế kỷ XXV trước Công nguyên. Các bộ lạc Arya từ Trung Á xâm nhập tạo cơ sở hình thành nhà nước. Triết học Ấn Độ gắn liền với tôn giáo và đời sống tâm linh. Tại Trung Quốc, triết học phát triển qua các triều đại phong kiến. Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo là ba trụ cột chính. Khái niệm triết học trong tiếng Hán thể hiện qua chữ 哲. Giáo trình so sánh sự khác biệt giữa hai truyền thống triết học. Người học KHTN hiểu được nền tảng tư tưởng của nhân loại. Kiến thức này hỗ trợ tư duy phản biện trong nghiên cứu khoa học.

2.1. Đặc điểm triết học phương Tây cổ đại và cận đại

Triết học phương Tây ra đời tại Hy Lạp cổ đại khoảng thế kỷ VIII đến VI trước Công nguyên. Các nhà triết học Hy Lạp tập trung tìm hiểu bản chất thế giới. Socrates, Plato, Aristotle đặt nền móng cho tư duy logic phương Tây. Triết học cận đại phát triển mạnh với Descartes, Kant, Hegel. Phép biện chứng duy tâm của Hegel có ảnh hưởng sâu rộng. Marx kế thừa hạt nhân hợp lý từ phép biện chứng này. Phép biện chứng duy vật ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng. Phương pháp tư duy khoa học được hình thành từ truyền thống này.

2.2. Bản sắc triết học phương Đông với Nho giáo và Đạo giáo

Triết học phương Đông mang tính thực tiễn và đạo đức cao. Nho giáo của Khống Tử nhấn mạnh năm mối quan hệ luân thường. Quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè là cốt lõi. Mạnh Tử cho rằng bản tính con người vốn thiện. Đổng Trọng Thư phát triển thành thuyết tam cương. Đạo giáo của Lão Tử đề cao thuận theo tự nhiên. Triết học Ấn Độ gắn liền với giải thoát và giác ngộ. Phật giáo truyền vào Trung Quốc tạo sự giao thoa văn hóa. Phương Đông coi trọng giáo dục đạo đức và tu dưỡng nhân cách.

III. Phương pháp tiếp cận giáo trình triết học cho người học khoa học tự nhiên

Người học khoa học tự nhiên cần phương pháp tiếp cận phù hợp với giáo trình triết học. Tư duy logic quen thuộc trong nghiên cứu KHTN là lợi thế lớn. Phương pháp phân tích khái niệm giúp hiểu bản chất các phạm trù triết học. Học viên nên liên hệ kiến thức triết học với chuyên môn khoa học. Phép biện chứng duy vật áp dụng hiệu quả trong nghiên cứu tự nhiên. Nguyên lý mối liên hệ phổ biến giải thích các hiện tượng phức tạp. Nguyên lý về sự phát triển hỗ trợ tư duy tiến hóa trong sinh học. Giáo trình khuyến khích thảo luận nhóm và tranh luận học thuật. Thực hành tư duy phản biện qua các tình huống cụ thể. Học viên cần đọc thêm tài liệu tham khảo ngoài giáo trình chính. Hệ thống bài tập cuối chương giúp củng cố kiến thức. Thời gian học tập phân bổ hợp lý giữa lý thuyết và thực hành. Kết quả đánh giá dựa trên quá trình và bài thi cuối kỳ.

3.1. Vận dụng phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu khoa học

Phép biện chứng duy vật là công cụ phương pháp luận quan trọng. Các cặp phạm trù lượng - chất áp dụng trong hóa học, vật lý. Nguyên lý phủ định của phủ định liên hệ với quá trình tiến hóa. Mâu thuẫn biện chứng giải thích các quá trình biến đổi tự nhiên. Nhà nghiên cứu KHTN sử dụng phép biện chứng để phân tích dữ liệu. Phương pháp này giúp phát hiện quy luật trong các hiện tượng phức tạp. Tư duy biện chứng ngăn ngừa phiến đoạn, tuyệt đối hóa kết quả. Giáo trình cung cấp ví dụ cụ thể từ các ngành khoa học tự nhiên.

3.2. Liên hệ thực tiễn giữa triết học và khoa học công nghệ hiện đại

Khoa học công nghệ hiện đại đặt ra nhiều vấn đề triết học mới. Trí tuệ nhân tạo thách thức quan niệm về ý thức và tư duy. Công nghệ sinh học đặt câu hỏi về bản chất con người. Vật lý lượng tử thay đổi nhận thức về thực tại khách quan. Giáo trình cập nhật các vấn đề thời sự này. Mối quan hệ giữa triết học và khoa học ngày càng mật thiết. Triết học cung cấp tầm nhìn tổng thể cho nghiên cứu chuyên ngành. Khoa học cung cấp cơ sở thực tiễn cho phát triển triết học. Sự kết hợp tạo ra phương pháp nghiên cứu toàn diện hơn.

IV. Kết luận và ứng dụng giáo trình triết học trong đào tạo tiến sĩ

Giáo trình Triết học khối không chuyên ngành đáp ứng yêu cầu đào tạo sau đại học. Nội dung bao quát từ lý luận đến thực tiễn khoa học công nghệ. Người học tiếp cận triết học một cách hệ thống và bài bản. Nền tảng triết học vững chắc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học. Tư duy biện chứng hỗ trợ giải quyết vấn đề phức tạp trong thực tế. Phương pháp luận triết học là công cụ không thể thiếu của nhà nghiên cứu. Giáo trình được biên soạn bởi đội ngũ chuyên gia uy tín. GS. Bùi Văn Ga, PGS. Bùi Anh Tuấn, TS. Vũ Thanh Bình chỉ đạo biên soạn. GS. Hồ Sĩ Quý và PGS. Phạm Văn Đức đồng chủ biên. Nhiều phó giáo sư, tiến sĩ khác đóng góp nội dung. Ý kiến góp ý từ các viện nghiên cứu và trường đại học được tiếp thu. Giáo trình liên tục được cập nhật và hoàn thiện qua các lần xuất bản.Ứng dụng thực tiễn rộng rãi trong đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ toàn quốc.

4.1. Ý nghĩa của giáo trình đối với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Giáo trình góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Học viên cao học, nghiên cứu sinh được trang bị phương pháp luận khoa học. Tư duy triết học giúp nhà khoa học nhìn nhận vấn đề toàn diện hơn. Năng lực phản biện được rèn luyện qua quá trình học tập. Giáo trình đáp ứng tiêu chuẩn đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục. Chất lượng luận án tiến sĩ được nâng cao nhờ nền tảng triết học vững. Người tốt nghiệp có khả năng lãnh đạo và quản lý khoa học. Đội ngũ nhân lực chất lượng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

4.2. Hướng phát triển và hoàn thiện giáo trình trong tương lai

Giáo trình cần tiếp tục cập nhật kiến thức triết học đương đại. Các vấn đề mới như đạo đức trí tuệ nhân tạo cần được bổ sung. Phương pháp giảng dạy tích hợp công nghệ thông tin nên được áp dụng. Tài liệu điện tử và bài giảng trực tuyến hỗ trợ người học hiệu quả. Sự hợp tác quốc tế trong biên soạn nội dung cần được mở rộng. Ý kiến phản hồi từ giảng viên và học viên rất quan trọng. Mỗi lần xuất bản mới cần hoàn thiện hơn về nội dung và hình thức. Mục tiêu cuối cùng là phục vụ tốt nhất công tác đào tạo và nghiên cứu.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC (DÙNG CHO KHỐI KHÔNG CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO THẠC SĨ, TIẾN SĨ CÁC NGÀNH KHOA HỌC TỰ NHIÊN, CÔNG NGHỆ) NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT Hà Nội - 2015 3 CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN GS. BÙI VĂN GA PGS. BÙI ANH TUẤN TS. VŨ THANH BÌNH BAN BIÊN SOẠN GS. HỒ SĨ QUÝ – PGS. PHẠM VĂN ĐỨC (Đồng Chủ biên) PGS. LƯƠNG ĐÌNH HẢI PGS. ĐOÀN ĐỨC HIẾU PGS. NGUYỄN TIẾN DŨNG VỚI SỰ CỘNG TÁC CỦA PGS. TRẦN NGUYÊN VIỆT 4 LỜI NÓI ĐẦU Thực hiện Thông tư số 08/2013/TT-BGDĐT ngày 8- 3-2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình môn Triết học khối không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản Giáo trình Triết học (dùng cho khối không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ) để phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của học viên cao học và nghiên cứu sinh các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ không thuộc chuyên ngành triết học. Giáo trình gồm 4 chương: Chương I. Khái luận về triết học. Chương II. Triết học Mác - Lênin. Chương III. Mối quan hệ giữa triết học và các khoa học. Chương IV. Vai trò của khoa học - công nghệ trong sự phát triển xã hội. Nội dung của Giáo trình Triết học được biên soạn theo hướng cập nhật kiến thức mới, phát huy tính tích cực, chủ động, liên hệ với thực tiễn của người học các chuyên ngành Khoa học tự nhiên, công nghệ. Giáo trình này còn là tài liệu cần thiết cho giảng viên các trường đại học, học viện, trường cao đẳng chuyên ngành lý luận chính trị và các độc giả quan tâm. Trong quá trình tổ chức biên soạn, Bộ Giáo dục và 5 Đào tạo đã nhận được nhiều ý kiến góp ý của các viện nghiên cứu và đào tạo triết học, các trường đại học, học viện, các nhà khoa học và đặc biệt là của GS. Hoàng Chí Bảo, GS. Trần Phúc Thắng, PGS. Nguyễn Viết Thông, PGS. Dương Văn Thịnh, PGS. Nguyễn Bá Dương, TS. Lê Ngọc Thông, TS. Nguyễn Bá Cường, PGS. Trần Nguyên Việt, vv. Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn, do những hạn chế khách quan và chủ quan nên vẫn còn những nội dung cần tiếp tục được bổ sung và sửa đổi, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật rất mong nhận được ý kiến góp ý để những lần xuất bản sau giáo trình được hoàn chỉnh hơn. Mọi góp ý xin gửi về Vụ Giáo dục Đại học - Bộ Giáo dục và Đào tạo, 49 Đại Cồ Việt, Hà Nội - ĐT: 043.1386 hoặc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, 12/86 Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - ĐT: 080. Tháng 1 năm 2015 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT 6 CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC I. TRIẾT HỌC LÀ GÌ 1. Khái niệm triết học Là một loại hình nhận thức đặc thù của con người, ý thức triết học ra đời gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tr.CN) ở cả phương Đông và phương Tây tại các trung tâm văn minh lớn của nhân loại thời Cổ đại. Ở Trung Quốc, chữ triết (哲), triết học (哲学) được hiểu là sự truy tìm bản chất của đối tượng nhận thức, thường là con người, xã hội, vũ trụ và tư tưởng. Triết học là biểu hiện cao của trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người về toàn bộ thể giới thiên - địa - nhân và định hướng nhân sinh quan cho con người. Ở Ấn Độ, thuật ngữ triết học (dar’sana) nghĩa gốc là chiêm ngưỡng, hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. Ở phương Tây, thuật ngữ triết học (φιλοσοφία) xuất hiện ở Hy Lạp cổ đại. Triết học (philosophia) nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp cổ đại, philosophia vừa mang nghĩa là giải thích vũ trụ, định hướng nhận thức 7 và hành vi, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người. Như vậy, cả ở phương Đông và phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần bậc cao, là loại hình nhận thức có trình độ trừu tượng hóa và khái quát hóa rất cao. Triết học nhìn nhận và đánh giá đối tượng xuyên qua thực tế, xuyên qua hiện tượng quan sát được về con người và vũ trụ. Ngay cả khi còn bao gồm trong nó tất cả mọi thành tựu của nhận thức, triết học đã tồn tại với tính cách là một hình thái ý thức xã hội. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng định nghĩa nào cũng đều bao hàm những nội dung cơ bản sau: Triết học nghiên cứu toàn bộ vũ trụ và con người (hay thế giới, con người, xã hội và tư duy) trong hệ thống chỉnh thể toàn vẹn vốn có của nó, giải thích tất cả các quan hệ trong và ngoài các chỉnh thể đó, chỉ ra những quy luật phổ biến nhất chi phối, quy định sự vận động của các chỉnh thể, tức là của vũ trụ, của xã hội loài người, của con người và của tư duy, tư tưởng và thể hiện toàn bộ sự hiểu biết đó dưới dạng các tri thức hệ thống về thế giới quan và nhân sinh quan. Theo Từ điển bách khoa triết học mới của Viện Triết học Nga, "Triết học là hình thức đặc biệt của nhận thức và ý thức xã hội về thế giới, được thể hiện thành hệ thống trị thức về những nguyên tắc cơ bản và nền tảng của tồn tại . người, về những đặc trưng bản chất nhất của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và với đời sống tinh thần". 8 Như vậy, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận phổ quát nhất của con người về thế giới, về vị thế và khả năng của con người trong thế giới ấy. Triết học ra đời do hoạt động của con người nhằm phục vụ nhu cầu sống và nhận thức của mình. Triết học gần hay xa thực tiễn cũng đều ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn. Triết học có nguồn gốc xã hội, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện ở thời tiền sử, mà chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định của sự phát triển xã hội: Tri thức của con người đã đạt đến trình độ hiểu biết nhất định và có khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Tầng lớp này có khả năng nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời. Ngày nay, triết học thường được thừa nhận là một hình thái ý thức xã hội, bên cạnh (hay cao hơn) khoa học và tôn giáo, độc lập tương đối với khoa học và tôn giáo. Cũng có những quan niệm coi triết học (toàn bộ triết học hay một trường phái nào đó của triết học) là khoa học, mang tính khoa học. Trong hệ thống phân loại khoa học tại các trung tâm giáo dục thế giới, triết học thường có mã ngành khoa học riêng, nó được xếp vào hàng các khoa học trừu tượng nhất. 9 Triết học Mác - Lênin được các nhà triết học mácxít coi là triết học khoa học. Đối tượng của triết học Với tính cách là các quan hệ và các quy luật chung nhất trong toàn bộ tự nhiên, xã hội và tư duy, thì đối tượng của triết học đôi khi được quan niệm là bất biến. Có những bộ phận, những thành tố, những phạm vi nhất định của đổi tượng của triết học được cố định dài lâu để nghiên cứu. Nhưng cùng với quá trình phát triển của nhận thức và của bản thân triết học, đối tượng của triết học trên thực tế thay đổi theo từng thời đại lịch sử, theo từng khu vực văn minh và theo từng trường phái triết học. Ngay từ khi ra đời, triết học đã được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức của tất cả các lĩnh vực mà mãi về sau, từ thế kỷ XV-XVII, mới dần tách ra thành các ngành khoa học riêng. Cantơ là người đứng ở đỉnh cao nhất trong số các nhà triết học vĩ đại của nhân loại - những người coi "toàn bộ kiến thức của loài người trong đó có khoa học tự nhiên là thuộc lĩnh vực của họ". Đây là nguyên nhân làm nảy sinh quan niệm vừa tích cực vừa tiêu cực rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học. 10 Ở thời kỳ Hy Lạp cổ đại, nền triết học tự nhiên đã đạt được những thành tựu vô cùng rực rỡ, mà "các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này". Ảnh hưởng của triết học Hy Lạp cổ đại còn in đậm dấu ấn đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu mãi về sau. Ngày nay, văn hóa Hy La còn là tiêu chuẩn của việc gia nhập Cộng đồng châu Âu. Ở Tây Âu thời Trung Cổ, khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học. Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh diện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của hệ tư tưởng Kitô giáo trong đêm trường trung cổ. Sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành, nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập. Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa 11 lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ