Quan niệm của C.Lênin về quyền con người và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay - Luận án TS

Khám phá quan niệm của Lênin về quyền con người và ý nghĩa lịch sử. Phân tích lý thuyết cộng sản, tác động đến phong trào quốc tế, ứng dụng thực tiễn tư tưởng.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ Triết học

2021

165
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quan niệm của C

Quyền con người là khái niệm cốt lõi trong triết học Marx-Lenin. C.Mác và Ph.Ăngghen đặt nền móng lý luận về quyền con người trên cơ sở duy vật lịch sử. C.Lênin kế thừa và phát triển phù hợp thời đại mới. Các nhà kinh điển khẳng định quyền con người mang tính lịch sử, gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội. Quyền con người không trừu tượng, siêu hình mà phản ánh đời sống thực tế của con người trong từng giai đoạn phát triển. Quan niệm này khác biệt căn bản với quan niệm tư sản. Tư sản coi quyền con người là tự nhiên, bất biến, siêu giai cấp. Marx, Engels, Lenin chỉ ra bản chất giai cấp của quyền con người trong xã hội có giai cấp. Quyền con người phải gắn với giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Đây là đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận nhân loại.

1.1. Điều kiện hình thành quan niệm về quyền con người

Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen và C.Lênin về quyền con người hình thành trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Cuối thế kỷ XIX, giai cấp tư sản thống trị tàn bạo. Người lao động bị bóc lột, áp bức nặng nề. C.Mác sinh năm 1818 tại Trier, Đức. Ph.Ăngghen sinh năm 1820 tại Barmen. Cả hai sớm nhận ra bất công xã hội. Ph.Ăngghen trực tiếp chứng kiến cuộc sống khổ cực của công nhân Anh. Điều kiện khách quan kết hợp với trí tuệ thiên tài giúp các ông xây dựng lý luận tiến bộ về quyền con người.

1.2. Vai trò của C.Mác và Ph.Ăngghen

C.Mác và Ph.Ăngghen là người sáng lập lý luận về quyền con người theo quan điểm duy vật. C.Mác phân tích sâu sắc sự tha hóa của con người trong xã hội tư bản. Ph.Ăngghen mô tả hiện thực phũ phàng qua tác phẩm 'Tình cảnh giai cấp công nhân Anh'. Cả hai khẳng định quyền con người gắn liền với lao động và sản xuất. Lênin đánh giá: 'Toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra'. Đây là nền tảng vững chắc cho lý luận sau này.

II. Phân tích nội dung quan niệm về quyền con người của các nhà kinh điển

Nội dung quan niệm về quyền con người của C.Mác, Ph.Ăngghen và C.Lênin bao gồm nhiều quyền cơ bản. Quyền tự do là quyền quan trọng nhất. Tự do không phải là khái niệm trừu tượng mà gắn với điều kiện vật chất. Con người chỉ thực sự tự do khi thoát khỏi áp bức, bóc lột. Quyền bình đẳng được hiểu theo quan điểm duy vật. Bình đẳng không có nghĩa là cào bằng mà là bình đẳng về cơ hội, về quyền lợi chính đáng. Quyền của phụ nữ được đặc biệt coi trọng. C.Mác coi sự giải phóng phụ nữ là thước đo tiến bộ xã hội. Quyền của trẻ em cũng được đề cập. Trẻ em cần được bảo vệ, giáo dục, phát triển toàn diện. Các quyền này có mối quan hệ biện chứng với nhau. Không thể tách rời quyền con người khỏi đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.

2.1. Quyền tự do và quyền bình đẳng

Quyền tự do trong quan niệm Marx-Lenin mang tính lịch sử. Tự do trước hết là tự do khỏi áp bức, bóc lột. Tự do chính trị gắn liền với tự do kinh tế. Con người lao động phải được hưởng thành quả lao động của mình. Quyền bình đẳng không phải là sự bình đẳng tuyệt đối. Đó là bình đẳng về cơ hội phát triển, về quyền tham gia quản lý xã hội. Marx phê phán bình đẳng hình thức của tư sản. Bình đẳng thực chất đòi hỏi xóa bỏ bất công xã hội.

2.2. Quyền của phụ nữ và trẻ em

Quyền của phụ nữ được C.Mác, Ph.Ăngghen và C.Lênin đặc biệt quan tâm. Phụ nữ bị áp bức kép: bởi giai cấp và bởi chế độ phụ quyền. Giải phóng phụ nữ là nhiệm vụ cách mạng quan trọng. C.Lênin coi sự tham gia của phụ nữ vào sản xuất là điều kiện giải phóng. Quyền của trẻ em cũng được đề cập. Trẻ em cần được bảo vệ khỏi lao động bóc lột. Giáo dục toàn diện cho trẻ em là trách nhiệm xã hội. Các quyền này thể hiện tính nhân văn sâu sắc.

III. Phương pháp tiếp cận quan niệm quyền con người theo Marx Lenin

Phương pháp tiếp cận quyền con người theo quan điểm Marx-Lenin dựa trên duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đây là phương pháp khoa học, cách mạng. Phương pháp này coi quyền con người là phạm trù lịch sử. Quyền con người biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Không có quyền con người vĩnh viễn, bất biến cho mọi thời đại. Phương pháp phân tích giai cấp được áp dụng. Trong xã hội có giai cấp, quyền con người mang bản chất giai cấp. Giai cấp nào thống trị thì quyền con người phục vụ lợi ích giai cấp đó. Phương pháp liên hệ thực tiễn cách mạng. Quyền con người không chỉ là lý luận mà phải được thực hiện qua đấu tranh thực tế. Phương pháp lịch sử - cụ thể. Đánh giá quyền con người phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không áp đặt mô hình chung cho mọi quốc gia.

3.1. Tiếp cận từ quan điểm duy vật lịch sử

Duy vật lịch sử là phương pháp nền tảng để nghiên cứu quyền con người. Phương pháp này xuất phát từ đời sống hiện thực của con người. Quyền con người phản ánh quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Kinh tế quyết định chính trị, pháp luật, đạo đức. Quyền con người không tồn tại độc lập ngoài xã hội. Phải phân tích điều kiện vật chất để hiểu bản chất quyền con người. Đây là điểm khác biệt cơ bản với phương pháp duy tâm.

3.2. Phương pháp phân tích giai cấp

Phân tích giai cấp là phương pháp đặc trưng của Marx-Lenin. Trong xã hội có giai cấp, quyền con người luôn mang bản chất giai cấp. Giai cấp tư sản tuyên bố quyền con người phổ quát nhưng thực chất phục vụ lợi ích tư bản. Giai cấp vô sản đòi quyền con người thực chất cho người lao động. C.Lênin chỉ rõ: dân chủ tư sản là dân chủ cho thiểu số. Dân chủ vô sản là dân chủ cho đại đa số nhân dân. Phương pháp này giúp nhận diện bản chất thực sự.

IV. Ý nghĩa quan niệm quyền con người Marx Lenin đối với Việt Nam hiện nay

Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen và C.Lênin về quyền con người có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam. Về mặt lý luận, quan niệm này cung cấp cơ sở khoa học để nhận thức đúng đắn về quyền con người. Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo vào đường lối, chủ trương. Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền con người toàn diện. Về thực tiễn, quan niệm này hướng dẫn công tác bảo đảm quyền con người. Quyền con người gắn liền với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, thách thức vẫn còn đó. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề quyền con người chống phá. Quan niệm Marx-Lenin là vũ khí sắc bén để đấu tranh, bảo vệ chính nghĩa.

4.1. Ý nghĩa đối với xây dựng chính sách pháp luật

Quan niệm Marx-Lenin về quyền con người là nền tảng xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam. Hiến pháp 2013 ghi nhận đầy đủ quyền con người, quyền công dân. Chương III Hiến pháp quy định 36 quyền cơ bản. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, phù hợp chuẩn mực quốc tế. Đảng và Nhà nước coi trọng bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực. Đây là kết quả vận dụng sáng tạo lý luận Marx-Lenin vào điều kiện Việt Nam.

4.2. Ý nghĩa đối với đấu tranh chống quan điểm sai trái

Quan niệm Marx-Lenin là vũ khí lý luận sắc bén để đấu tranh chống quan điểm sai trái. Các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc vấn đề quyền con người tại Việt Nam. Họ áp đặt tiêu chuẩn phương Tây, phủ nhận đặc thù lịch sử, văn hóa. Lý luận Marx-Lenin giúp nhận diện bản chất âm mưu 'diễn biến hòa bình'. Quan niệm này khẳng định quyền con người gắn với độc lập dân tộc. Việt Nam kiên quyết bảo vệ quan điểm đúng đắn, phù hợp thực tiễn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, các tác giả đã phân tích những quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về QCN. Đi tìm hiểu quan điểm của C.Ăngghen, các tác giả đã đề cập qua đến khái niệm QCN, phân tích và đặt con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, việc giải phóng con người để con người có được quyền thực sự phụ thuộc vào những cơ sở: chế độ sở hữu và sự vận động của phương thức sản xuất xã hội, phải xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột xây dựng xã hội mới dân chủ thực sự, QCN là của từng cá nhân con người. Kế thừa quan điểm của C.Lênin, phát triển sáng tạo những luận điểm về quyền bình đẳng và tự do của con người, bên cạnh phải có pháp luật thì cũng cần những điều kiện thực tế và thuận lợi để các quyền đó được thực thi. Khi bàn về nội dung cụ thể của QCN, các tác giả đi tìm hiểu về quyền dân sự, chính trị và quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; nhưng sự phân tích còn chung chung, chưa làm rõ những luận điểm cụ thể về vấn đề này.

Hai tác giả Hoàng Mai Hương và Nguyễn Hồng Hải đã nghiên cứu quan điểm của V.Lênin về vấn đề QCN và trình bày trong cuốn sách “Tư tưởng của V.Lênin về quyền con người và giá trị thực tiễn ở Việt Nam” [51]. Tiếp thu tư tưởng của C.Ăngghen về QCN, V.Lênin đã phát triển sáng tạo những tư tưởng đó phù hợp với bối cảnh lịch sử mới. Các tác giả tập trung làm rõ quan điểm của V.Lênin về một số QCN nổi bật, có ảnh hưởng nhiều nhất đến luật quốc tế hiện đại về QCN là quyền dân chủ, quyền dân tộc tự quyết, quyền chính trị và quyền tham gia. Tuy nhiên cuốn sách này chỉ đi phân tích và sự vận dụng của Việt Nam về một số quyền cơ bản, còn nhiều quyền khác chưa được đề cập đến.

Trong luận án, NCS sẽ làm sáng tỏ một số quyền khác trong quan điểm của V. Cuốn sách “Chủ nghĩa xã hội và quyền con người” của hai tác giả Đặng Dũng Chí và Hoàng Văn Nghĩa [11]. Qua sự phân tích của các tác giả đã cho thấy những luận giải sâu sắc của C.Ăngghen về nguồn gốc, bản chất và nội dung của 13 luan van, khoa luan 18 of 66. tai lieu, document19 of 66.

Theo các ông, thuật ngữ QCN ra đời gắn liền với sự ra đời của giai cấp tư sản, được quy định và bảo vệ bằng pháp luật. QCN mang tính giai cấp, tính nhân loại, tính phổ biến và đặc thù.Ăngghen đã bàn về các quyền tự do, dân chủ; quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận; tự do chính trị, giải phóng chính trị và QCN. Không chỉ là những biểu hiện cụ thể của các quyền ấy trong đời sống, C.Ăngghen còn vạch ra con đường hiện thực để đạt tới các quyền đó. Kế thừa quan điểm của C.Lênin đã phát triển và làm phong phú lý luận mácxít về QCN trong điều kiện lịch sử mới.

Một trong những đóng góp là tư tưởng về dân chủ và quyền dân tộc tự quyết. NCS có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu này và phân tích làm rõ thêm những tư tưởng khác của Chủ nghĩa Mác-Lênin về QCN trong luận án của mình. Tác giả Lê Văn Kiện với bài viết “Một số quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo”, đăng trên tạp chí Giáo dục lý luận số 248 - tháng 7. Trên cơ sở tìm hiểu quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo, tác giả đã phân tích về nguồn gốc, bản chất và phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo.

Tôn giáo có nguồn gốc từ hiện thực cuộc sống của con người, từ nguồn gốc kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý. Ba nguồn gốc đó thống nhất với nhau, trong đó sâu xa nhất, cơ bản nhất là nguồn gốc kinh tế - xã hội, khi nguồn gốc này không còn thì tôn giáo cũng sẽ tự tiêu vong. Để giải quyết vấn đề tôn giáo, cần phải tiến hành cách mạng cải biến xã hội, xóa bỏ áp bức, bất công, xây dựng chế độ xã hội mới tự do, bình đẳng. Đồng thời, phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, chống âm mưu lợi dụng tôn giáo vào những mục đích khác.

Có thể nói, chỉ khi đến Chủ nghĩa Mác-Lênin thì tôn giáo mới được nhìn nhận một cách khoa học và toàn diện. Tác giả đã phân tích những nét rất cơ bản trong quan điểm của Mác-Lênin về tôn giáo, giúp người đọc có cái nhìn tổng quan và sâu sắc về vấn đề. Qua những tài liệu trên có thể thấy quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về QCN đã được phân tích dưới những bình diện khác nhau. Trên cơ sở kế thừa những quan điểm khoa học của các nhà tư tưởng đi trước, C.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm về QCN và sau này được V.Lênin kế thừa phát triển trong điều 14 luan van, khoa luan 19 of 66.

tai lieu, document20 of 66. kiện hoàn cảnh mới. Những nội dung thường được đề cập đến là khái niệm, đặc điểm, tính chất, con đường để đạt được QCN, nội dung QCN về dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa. Tuy nhiên ở mỗi công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến một vài nội dung trong quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về QCN, có những nội dung được phân tích kỹ lưỡng, có nội dung chỉ được giới thiệu qua.

Trong luận án, NCS sẽ tham khảo những kết quả nghiên cứu trong các công trình này, đồng thời phân tích và làm rõ một số nội dung khác trong quan niệm về QCN của Chủ nghĩa Mác-Lênin như quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền của phụ nữ, quyền của trẻ em. Tình hình nghiên cứu về quyền con người và quyền con người ở Việt Nam Năm 1998, Hoàng Văn Hảo và Chu Hồng Thanh xuất bản cuốn sách “Các văn kiện quốc tế về quyền con người” [42]. Đây là một tập trích dẫn tương đối đầy đủ về các tuyên ngôn, tuyên bố quan trọng về nhân quyền và 8 công ước quốc tế về nhân quyền mà nước ta đã ký kết, phê chuẩn. Có những văn kiện quan trọng được đề cập đến như Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ, năm 1945); Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (năm 1948); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (năm 1966).

cùng với các tuyên ngôn, tuyên bố, công ước khác. Với việc tham gia các văn kiện này, một mặt khẳng định Đảng, Nhà nước Việt Nam thừa nhận và bảo đảm những quyền, lợi ích chính đáng cho nhân dân; mặt khác thể hiện trách nhiệm, góp tiếng nói chung cùng với cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ, thúc đẩy thực thi nhân quyền trên phạm vi thế giới. Dựa trên những tuyên ngôn, tuyên bố này, Đảng, nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, đưa ra chủ trương, chính sách vừa đáp ứng nhu cầu thực tiễn cuộc sống, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm bảo đảm, bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền và tự do cơ bản cho nhân dân. Tập bài giảng “Lý luận về quyền con người” (năm 1998) của Trung tâm nghiên cứu QCN [120].

Trên cơ sở phân tích QCN trong tiến trình lịch sử nhân loại với những tư tưởng và quan niệm khác nhau, trong đó có quan niệm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, các tác giả đã chỉ ra nguồn gốc, nội dung, bản chất của QCN, quyền công dân (QCD); tìm ra tính quy luật hình thành và phát triển của QCN trong lịch sử nhân loại. 15 luan van, khoa luan 20 of 66. tai lieu, document21 of 66. Với sự phân tích khái quát nhưng khá đầy đủ, tập bài giảng đã cho người đọc một cái nhìn cơ bản về những tư tưởng QCN trong thời kỳ cổ đại, cận đại.

Đến chủ nghĩa tư bản, QCN đã có sự phát triển vượt bậc so với thời kỳ trước trong việc đòi quyền tự do, bình đẳng, phát triển cho con người nhưng nó cũng chứa đựng những mâu thuẫn không thể giải quyết. Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai (năm 1945), vấn đề QCN đã trở thành mối quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế, với những tuyên ngôn, công ước, nghị định thư về nhân quyền được thông qua và sự cụ thể hóa trong Hiến pháp của nhiều nước, nội dung QCN ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh nhằm bảo đảm những quyền cơ bản cho con người, đồng thời thúc đẩy sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững. Cuốn “Quyền con người ở Trung Quốc và Việt Nam: truyền thống - lý luận và thực tiễn” (2003) [123] và cuốn “Quyền con người - lý luận và thực tiễn ở Việt Nam và Ô - xtrây - lia” (2004) [124], đây là hai công trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu QCN với nước ngoài. Hai công trình này tập hợp nhiều bài viết của các tác giả trong và ngoài nước, đề cập đến quá trình phát triển của nhân quyền từ góc độ triết học, chính trị và pháp luật, quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN; thực trạng bảo đảm QCN và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo, bảo vệ và phát triển QCN ở Việt Nam cũng như Trung Quốc và Ô - xtrây - lia.

Trong đó có những bài viết có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án như “Phê phán những quan điểm sai trái trên lĩnh vực quyền con người” của Hoàng Văn Hảo; “Một số vấn đề về quyền con người trong kinh điển Mácxít” của Ngô Đình Xây, “Quan điểm và chính sách cơ bản của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người” của Hoàng Văn Hảo… Hai cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ hơn về vấn đề lý luận cũng như thực tế của tình hình nhân quyền hiện nay, ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Bài nghiên cứu “Sự hoàn thiện và phát triển quyền con người và pháp quyền công dân qua các bản Hiến pháp của Việt Nam” của Trần Ngọc Đường, được viết trong cuốn “Một số bài viết về quyền con người của các tác giả Việt Nam” (tháng 6 - 2000) [122] của Trung tâm nghiên cứu QCN. Ở phần đầu, tác giả đã nghiên cứu về quan niệm QCN trong thời đại ngày nay. Những tư tưởng về quyền của con người đã 16 luan van, khoa luan 21 of 66.

tai lieu, document22 of 66. có từ thời cổ đại, để bênh vực, đòi những quyền cơ bản cho con người. Phải đến thế kỷ XVII, XVIII, các nhà tư tưởng mới bàn đến QCN như một học thuyết với các trường phái pháp luật tự nhiên, và quan niệm xem con người cũng như QCN trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ