Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỌNG DỤNG NGƯỜI TÀI TRONG CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Chính sách trọng dụng người tài 1. Khái niệm Chính sách trọng dụng người tài do Nhà nước ban hành. Đến nay theo tìm hiểu của tác giả chưa có một công trình nghiên cứu nào đưa ra khái niệm cụ thể về chính sách trọng dụng người tài.
Để đưa ra được khái niệm chính xác về chính sách trọng dụng người tài, cần thống nhất cách hiểu chung về chính sách công, chính sách trọng dụng, người tài. Khái niệm chính sách Theo từ điển tiếng Việt:“Chính sách được hiểu là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế đề ra” [27, tr. 56] Theo các nhà xã hội học, chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và các công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm giải quyết vấn đề để thực hiện những mục tiêu nhất định. 37] Theo Nguyễn Minh Thuyết: “Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy.
Cấu trúc của chính sách bao gồm: đường lối cụ thể, biện pháp, kế hoạch thực hiện. Chủ thể ban hành chính sách là: chính đảng, cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị, công ty…” [36, tr.23] Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt 9 n động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.42] Chính sách công do Nhà nước ban hành, là sự cụ thể hóa đường lối chủ trương, chiến lược, định hướng và là công cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước. Chính sách công được thể chế hóa các văn bản quy phạm pháp luật như luật, nghị định, thông tư, quyết định, nghị quyết, chỉ thị nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc thi hành. Khái niệm người tài Theo Từ điển tiếng Việt: “Người tài là người có tài năng và đạo đức, có một sở trường nào đó” [27, tr.
Theo Đức Vượng: “Nhân tài phải là những người có tài năng xuất sắc, có những cống hiến về lý luận kinh tế, khoa học kỹ thuật, tài lãnh đạo, quản lý nổi trội hơn những người bình thường” [48, tr.23] Theo Trần Văn Ngợi: “Người có tài là người có trình độ, năng lực vượt trội, có thành tích đặc biệt xuất sắc và có ảnh hưởng đến sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội” [26, tr. Như vậy nói đến người tài là nói đến người có phẩm chất, trình độ, năng lực, tri thức vượt trội về một ngành, lĩnh vực cụ thể nào đó… có nhiều đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Khái niệm trọng dụng người tài Theo Từ điển tiếng Việt: “Trọng dụng là tin cậy và giao cho những công việc, chức vụ quan trọng, xứng đáng. Trọng dụng thực chất là sử dụng và đãi ngộ.
Sử dụng đúng người, đúng tài năng, năng lực, sở trường. Đãi ngộ tương xứng với năng lực, cống hiến, đóng góp. Trọng dụng người tài có thể hiểu là sự tin cậy, tôn trọng và giao phó cho người có tài năng xuất sắc, có những thành tích xuất sắc, cống hiến về một lĩnh vực nào đó và có ảnh hưởng đến sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội những công việc, chức vụ quan trọng, xứng đáng, phù hợp với năng lực, sở trường, đồng thời 10 n tạo điều kiện thuận lợi để họ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao và đãi ngộ xứng đáng với công trạng và sự đóng góp của họ đối với ngành, lĩnh vực hoặc xã hội. Khái niệm chính sách trọng dụng người tài Hiện nay, theo tìm hiểu của tác giả, chưa có nghiên cứu nào đưa ra khái niệm cụ thể về chính sách trọng dụng người tài.
Căn cứ vào các khái niệm chính sách, người tài, trọng dụng người tài đã tổng hợp ở trên, có thể đưa ra khái niệm chính sách trọng dụng người tài như sau: Chính sách trọng dụng người tài là cơ chế của Nhà nước có tính ưu tiên trong sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh người có tài năng xuất sắc, có những thành tích xuất sắc, cống hiến về một lĩnh vực nào đó, tạo điều kiện thuận lợi nhất để phát huy năng lực, sở trường và cống hiến của họ cho sự phát triển của xã hội và của đất nước. Người tài hoạt động khoa học và công nghệ trong các tổ chức khoa học và công nghệ Theo Luật Khoa học và Công nghệ 2003: “Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật.1] “Cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ”[31, tr.1] “Hoạt động KH&CN là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN”.1] Cùng với khái niệm người tài đã trình bày ở trên, có thể hiểu người tài hoạt động KHCN trong các tổ chức KH&CN là những người có phẩm chất, trình độ, năng lực, tri thức vượt trội trong thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo nhằm phát triển KH&CN. 11 n Hiện nay, không có một hệ thống yếu tố xác định rõ ràng người tài hoạt động KHCN trong các tổ chức KH&CN. Căn cứ vào các văn bản, chính sách của Nhà nước về phát triển KH&CN có thể thấy người tài hoạt động KHCN được nhóm thành 3 nhóm: 1) các cán bộ KH&CN đầu ngành; 2) các cán bộ KH&CN được giao chủ trì nhiệm vụ quan trọng của quốc gia và 3) các cán bộ KH&CN trẻ tài năng.
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu thực hiện chính sách trọng dụng người tài đối với 3 nhóm trên tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Các văn bản, chính sách trọng dụng người tài hoạt động khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với xây dựng, phát triển KH&CN ở Việt Nam nói chung và trọng dụng người tài hoạt động KHCN nói riêng. Chính sách trọng dụng người tài hoạt động KHCN, về cơ bản vẫn được đặt trong khung thể chế chung về quản lý công chức và viên chức, phát triển KH&CN, tuy nhiên có nhiều nội dung mới. Chính sách trọng dụng người tài hoạt động KHCH được quy định trong văn bản luật, nghị định, thông tư, quyết định cụ thể như sau: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nghị quốc tế, đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ KH&CN, nhất là các chuyên gia giỏi, có nhiều đóng góp.
Tạo môi trường thuận lợi, điều kiện vật chất để cán bộ KH&CN phát triển bằng tài năng và hưởng lợi ích xứng đáng với giá trị lao động sáng tạo của mình. Nâng cao năng lực, trình độ và phẩm chất của cán bộ quản lý KH&CN ở các ngành, các cấp”. “Có chính sách trọng dụng đặc biệt đối với cán bộ KH&CN đầu ngành, cán bộ KH&CN được giao chủ trì nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, cán bộ KH&CN trẻ tài năng. Điều 23 quy định về việc ưu đãi trong việc sử dụng nhân lực, nhân tài KH&CN như sau: Một là, người được bổ nhiệm vào chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ được hưởng ưu đãi: 1) Được xếp vào vị trí việc làm và hưởng mức lương, phụ cấp phù hợp với chuyên môn và năng lực trong tổ chức khoa học và công nghệ công lập; 2) Được hưởng ưu đãi về thuế theo quy định tại Điều 64 của Luật này; 3) Được trang bị phương tiện và tạo điều kiện làm việc thuận lợi cao hơn mức quy định cho cán bộ, công chức nhà nước và phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ KH&CN được giao; 4) Được miễn trách nhiệm dân sự trong trường hợp xảy ra thiệt hại, rủi ro gây ra cho Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN do nguyên nhân khách quan, mặc dù đã thực hiện đầy đủ quy trình, quy định về nghiên cứu khoa học.
Hai là, nhà khoa học đầu ngành còn được hưởng thêm những ưu đãi: 1) Được ưu tiên giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN quan trọng; 2) Được thành lập nhóm nghiên cứu xuất sắc trong lĩnh vực chuyên môn của mình và được cấp hoặc hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của nhóm này; 3) Được trực tiếp đề xuất, tham gia xây dựng, đánh giá và phản biện chính sách của ngành, lĩnh vực, quốc gia về phát triển KH&CN; 4) Được ưu tiên giao nhiệm vụ phản biện độc lập đối với nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, cấp bộ và cấp tỉnh; 5) Được hưởng mức phụ cấp ưu đãi đặc biệt theo quy định của Chính phủ; 6) Được hỗ trợ kinh phí tham gia hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế thuộc lĩnh vực chuyên môn.