CHƯƠNG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CO SO LY LUAN VE THU HUT KHACH DU LICH QUOC TE 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu 1. Nhóm nghiên cứu về thu hút khách du lịch quốc tế Có rất nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế về các yếu tố thu hút khách du lịch quốc tế đến một điểm đến du lịch.
- Đề tài nghiên cứu trên thế giới: Nghiên cứu của Gearing và cộng sự (1974) là một trong những công trình nghiên cứu cơ bản về khả năng thu hút của điểm đến du lịch. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã xác định 17 đặc tính tạo nên sức hấp dẫn của một điểm đến du lịch và phân loại chúng thành 5 nhóm chính, gồm: yếu tố tự nhiên; yếu tố xã hội; yếu tố lịch sử; cơ sở vật chất giải trí và mua săm; cơ sở hạ tầng, thức ăn và lưu trú. Ritchie va Zins (1978) đã sử dụng 17 tiêu chi từ nghiên cứu của Gearing và cộng sự (1974) dé phân tích khả năng thu hút của Quebec, Canada. Qua nghiên cứu này, tác giả đã xác định được 8 nhân tố chính ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của Quebec, được sắp xếp theo thứ tự giảm dần về mức độ ảnh hưởng: tự nhiên và khí hậu, đặc điểm văn hóa và xã hội, khả năng tiếp cận điểm đến, thái độ đối với khách du lịch, cơ sở hạ tầng của điểm đến, mức giá, co Sở vật chất thể thao, giải trí và giáo dục.
Hu và Ritchie (1993) cũng đã tiếp nối phương pháp của Gearing và cộng sự (1974) để nghiên cứu sức hấp dẫn của 5 điểm đến bao gồm Hawaii, Australia, Hy Lạp, Pháp và Trung Quốc. Tuy nhiên, tác giả đã điều chỉnh các thuộc tính cho phù hợp với bối cảnh. Chang hạn như thêm thuộc tinh giá ca, khả năng tiếp cận điểm đến, rao cản ngôn ngữ. Ngoài ra, dựa trên nền tảng nghiên cứu của Gearing và cộng sự (1974) và Hu và Ritchie (1993), nhiều tác giả khác trên thế giới đã tiếp tục phát triển và mở rộng lĩnh vực nghiên cứu khả năng thu hút của điểm đến du lịch, một 36 công trình tiêu biểu bao gồm: Nghiên cứu của Krešié va cộng sự (2011) tập trung vào việc xác định các chỉ số thu hút của điểm đến tại 6 quận ven biển Croatia và Dubrovnik-Neretva.
Tác giả đã phát triển 19 thuộc tính để đánh giá sức hấp dẫn của điểm đến và đã phân loại các thuộc tính này vào sáu nhóm nhân tố khác nhau, gồm: ăn uống và lưu trú, các hoạt động tại điểm đến, đặc điểm tự nhiên, vẻ đẹp điểm đến, bảo vệ môi trường, chính sách marketing. Nghiên cứu của Klufová (2016) được thực hiện dé định gia sự thu hút của khu vực Nam Bohemia. Tác giả đã giới thiệu 8 yếu tố có ảnh hưởng tới khả năng thu hút của điểm đến bao gồm: điểm tham quan tự nhiên; điểm tham quan lịch sử; điểm tham quan tôn giáo; điểm tham quan văn hóa; cơ sở thể thao; cơ sở lưu trú; cơ sở ăn uống: điểm tham quan vùng nông thôn. Dimitrov và cộng sự (2017) nghiên cứu về khả năng thu hút điểm điểm đến tại Bulgaria.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 8 yếu tô ảnh hưởng đến sức hap dẫn của điểm đến Bulgaria là: dịch vụ, tự nhiên, văn hóa, lưu trú, gia cả, điều kiện tiếp cận, cơ sở hạ tầng, giải trí. Nghiên cứu của Islam và cộng sự (2017) được tiến hành nhằm xác định các yếu tô ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của các điểm đến, dựa vào các tài nguyên tự nhiên tại Bangladesh. Các tác giả đã đề xuất 24 thuộc tính và chia chúng thành 4 nhóm nhân tố, bao gồm: Cơ sở hạ tầng du lịch, yếu tố lịch sử và văn hóa, yếu tố tự nhiên, phương tiện truyền thông và lối sống tương đồng. Nghiên cứu của Reitsamera và cộng sự (2016) được thực hiện dé xác định anh hưởng của sức hấp dẫn tới mức độ gắn bó của khách du lịch với điểm đến, với tác động trung gian là thái độ của du khách.
Trong đó, sức hấp dẫn của điểm đến được hình thành từ bốn yếu tố chính bao gồm khả năng tiếp cận, tiện ích, cộng đồng địa phương, và phong cảnh. Nghiên cứu của Chaudhary và Islam (2021) nhằm xác định các chỉ số đánh giá khả năng thu hút của điểm đến được tiến hành tai thung lũng Kashmir, Ấn Độ. Tác giả đã nêu 39 đặc tính và chia thành 11 nhóm bao gồm: vấn đề vệ sinh, địa điểm âm thực, phương tiện di chuyền, nơi lưu trú, trang web, phương tiện truyền thông, giá cả, yếu tô văn hóa, tiện ích du lịch, yếu tô tự nhiên và các hoạt động du lịch. - ĐỀ tài nghiên cứu trong nước: Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến các vấn đề liên quan đến điểm đến như hình ảnh của điểm đến, mức độ hải lòng của du khách với điểm đến, và khả năng quay lại của du khách với điểm đến.
Tuy nhiên, số lượng công trình nghiên cứu về kha năng thu hút của điểm đến vẫn còn hạn chế. Hai nghiên cứu nồi bật nhất về khả năng thu hút của điểm đến có thé ké đến là công trình của Bùi Thị Tám và Mai Lệ Quyên (2012) và nghiên cứu của Nguyễn Thúy Vy (2019). Mô hình nghiên cứu của Bùi Thị Tám và Mai Lệ Quyên (2012) được phát triển dựa trên mô hình của Hu và Ritchie (1993) với việc bé sung thêm thuộc tính “an toàn của điểm đến” dé đánh giá khả năng thu hút của điểm đến du lịch. Kết quả nghiên cứu của Bui Thị Tám và Mai Lệ Quyên cho thấy, mặc dù các yếu tố tài nguyên du lịch tại Huế được đánh giá cao về mức độ nồi trội, nhưng các sản phẩm và dịch vụ cơ bản vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tốt nhất của du khách.
Điều này đã trở thành rào can, hạn chế khả năng thu hút du khách đến với điểm đến nay. Tương tự, mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thúy Vy (2019) cũng được xây dựng dựa trên nền tang của các kết quả nghiên cứu trước đó của Hu và Ritchie (1993), tiếp tục kế thừa va phát triển các yếu tố đã được nghiên cứu. Tác giả đã xác định 5 nhân tổ chính ảnh hưởng đến khả năng hấp dẫn khách du lịch của vùng Duyên hải phía đông đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm: yếu tố tự nhiên, yếu tô văn hóa — xã hội, yếu tố lịch sử, điều kiện giải trí và mua săm (cơ sở vật chất), cơ sở hạ tầng, am thực va lưu trú (những đặc điểm hỗ trợ). Kết qua từ phân tích hồi quy tuyến tinh cho thay các yếu tố ảnh hưởng đến kha năng thu hút khách du lịch tại vùng Duyên hải phía Đông đồng bằng sông Cửu Long được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp, bao gồm: yếu tố tự nhiên, văn hóa xã hội va những đặc tính hỗ trợ.
Nhóm công trình nghiên cứu về tác động của đại dịch Covid-19 đến du lịch Nhiều tác giả đã tiền hành nghiên cứu về anh hưởng của đại dich Covid-19 đối với ngành du lịch, bao gồm: Nghiên cứu “Covid-19 and the Future of Tourism in Asia and the Pacific" của Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (2022) đánh giá tác động của đại dich Covid-19 lên ngành du lịch tại khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, đồng thời đưa ra các dự báo và khuyến nghị cho tương lai. Đại dịch đã gây ra sự suy giảm mạnh mẽ về số lượng du khách quốc tế và nội dia do các biện pháp phong tỏa va hạn chế đi lại, dan đến thiệt hại nặng nề cho ngành du lịch. Theo báo cáo của UNWTO, lượng khách du lịch quốc tế đến khu vực này đã giảm tới 84% trong năm 2020 so với năm 2019. Các điểm đến nồi tiếng như Thái Lan, Nhật Ban và Úc đã chứng kiến sự giảm sút đáng kê về lượng khách, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế.
Doanh thu từ du lịch giảm mạnh, với tôn thất ước tính lên đến 1,2 nghìn ty USD trên toàn cầu, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của các quốc gia phụ thuộc nhiều vào du lịch. Nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa hoặc giảm quy mô hoạt động, gây ra tình trạng thất nghiệp và mất thu nhập cho hàng triệu lao động. Đề ứng phó, các chính phủ và doanh nghiệp trong khu vực đã triển khai các biện pháp hỗ trợ tài chính, thúc đây du lịch nội địa và tăng cường các biện pháp y tế và an toàn đề khôi phục niềm tin của du khách. Ví dụ, chính phủ Thái Lan đã đưa ra các gói kích cầu kinh tế trị giá 1,9 tỷ USD để hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch và khuyến khích người dân du lịch trong nước.
Việc áp dụng công nghệ số trong quản lý và quảng bá du lịch đã được đây mạnh, với các ứng dụng di động, du lịch ảo và các nền tảng trực tuyến trở thành công cu quan trọng. Nghiên cứu nhân mạnh tam quan trọng của việc phát triển du lịch bền vững, bảo vệ môi trường và tôn trọng văn hóa địa phương. Các xu hướng du lịch xanh, du lịch cộng đồng và du lịch có trách nhiệm được coi là hướng đi mới cho ngành. Sự hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực Châu A và Thái Bình Dương cũng được coi là yếu tố then chốt dé khôi phục và phát triển du lịch, với các sáng kiến như hành lang du lịch an toàn và hiệp định song phương.
Nghiên cứu kết luận rằng đại dịch Covid-19 đã mang lại nhiều thách thức lớn cho ngành du lịch tại Châu Á và Thái Bình Dương, nhưng cũng mở ra cơ hội để tái cấu trúc và phát triển bền vững hơn. Các chính phủ và doanh nghiệp cần tiếp tục đầu tư vào các biện pháp phục hồi, chuyền đổi số và phát triển bền vững dé xây dung một ngành du lịch chống chịu và phát triển trong tương lai. Chang hạn, việc xây dựng các chính sách thúc đây du lịch xanh và cải thiện cơ sở hạ tầng y té tai cac diém du lich sẽ là những bước quan trọng dé dam bao sự phục hồi va phát triển bền vững cho ngành du lịch sau đại dịch. Nghiên cứu “/mpacts and restoration strategy of the tourism industry post- COVID-19 pandemic: evidence from Vietnam” của tac gia Vũ Dinh Hoa va cộng sự (2022) đã trình bay tác động của dai dich COVID-19 lên ngành du lịch Việt Nam va đề xuất các chiến lược phục hồi sau đại dịch.
Các tác động của dai dịch COVID-19 lên ngành du lịch Việt Nam được phân tích dựa trên hai nguồn dữ liệu từ các cơ quan nhà nước và các cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi tác giả vào đầu năm 2021.