CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNG GIẢ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỐNG HÀNG GIẢ 1. Khái niệm hàng giả và đặc điểm của hàng giả Thị trường hàng hóa càng phát triển, các sản phẩm phục vụ đời sống người dân càng đa dạng và phong phú, từ kiểu dáng, mẫu mã tới giá thành sản phẩm. Hơn nữa, thị hiếu và nhu cầu của người dân cũng ngày càng cao hơn do chất lượng cuộc sống của người ngày một được nâng cao. Đây chính là cơ hội để việc sản xuất, kinh doanh hàng giả hình thành và phát triển mạnh mẽ.
Vấn nạn hàng giả đã xuất hiện từ lâu và cũng được Chính phủ hết sức quan tâm. Bằng chứng là rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã đề cập đến hàng giả, trong đó đã nêu khá rõ về khái niệm hàng giả. Theo Nghị định số 140/HĐBT ngày 25 tháng 4 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất buôn bán hàng giả “Hàng giả là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”. Theo Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hàng giả bao gồm: - Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; - Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; 5 - Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác; - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; - Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; - Tem, nhãn, bao bì giả.
Hàng giả có thể chứa một hoặc nhiều dấu hiệu giả như trên. Ví dụ như vừa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa vừa giả chất lượng. Nguyên nhân dẫn đến tồn tại và phát triển vấn nạn hàng giả Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo (2019), nguyên nhân dẫn đến tồn tại và phát triển vấn nạn hàng giả bao gồm: Thứ nhất, Bất cẩn trong cơ chế quản lý Đây có lẽ là nguyên nhân phổ biến nhất. Lực lượng kiểm tra quản lý đông nhưng không chất lượng, làm việc bất cẩn rời rạc và không đồng nhất.
Chính vì thế cho dù chịu sự kiểm tra của rất nhiều cơ quan nhưng hàng giả, hàng nhái vẫn được bày bán lộ liễu ở các gian hàng chợ, tiệm tạp hoá. Thứ hai, Do sự “tiếp tay” của người tiêu dùng Người tiêu dùng không có nhiều kiến thức về mặt hàng mình mua, không kiểm tra kĩ hàng mà chỉ dựa vào bao bì in trên sản phẩm hoặc quá tin vào lời người bán hàng. Đồng ý rằng hàng giả và hàng thật bây giờ có mẫu mã không khác gì 6 nhau nhưng người tiêu dùng nên lựa chọn thông minh hoặc mua ở những nơi uy tín. Còn có một người mua xong tuy biết rằng đó là hàng giả nhưng vẫn “tiếp tay” và không kiện.
Thứ ba, Do ý thức bảo vệ từ các doanh nghiệp Các doanh nghiệp chưa có những biện pháp để bảo vệ thương hiệu và người tiêu dùng của mình, dẫn đến rất nhiều nơi làm giả mặt hàng của mình mà không biết. Doanh nghiệp nên nhờ các cơ quan chức năng xử lý khi phát hiện mặt hàng của mình bị bày bán ở những nơi thiếu uy tín hoặc bị làm giả. Quản lý nhà nước về chống hàng giả 1. Khái niệm quản lý nhà nước về chống hàng giả Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung.
Quản lý ra đời chính là muốn đạt đến hiệu quả lớn hơn, năng suất cao hơn trong công việc. QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là quản lý công việc của Nhà nước. QLNN xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của Chính phủ và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp [Theo Học viện Hành chính quốc gia (2005)]. Trước hết, chủ thể QLNN là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Thứ hai, đối tượng quản lý của Nhà nước là toàn bộ dân cư và các tổ chức trong phạm vi tác động quyền lực nhà nước. Thứ ba, vì tính đa dạng về lợi ích, hoạt động của các nhóm người trong xã hội, QLNN diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân. Thứ tư, QLNN mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các 7 cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Hàng hóa nói chung, hàng giả nói riêng là đối tượng thuộc Nhà nước điều chỉnh, quản lý. Nhà nước không thừa nhận hàng giả nhưng trên thực tế hàng giả vẫn tồn tại, do đó Nhà nước vẫn phải quản lý. Tuy nhiên, Nhà nước không quản lý hàng giả ở góc độ hàng hóa mà quản lý hàng giả thông qua công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại trên thị trường. Và vấn đề đặt ra là Nhà nước quản lý công tác phòng, chống hàng giả như thế nào để phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi vi phạm liên quan đến hàng giả trong lĩnh vực kinh doanh hàng hóa.
QLNN về công tác chống hàng giả là hoạt động thực thi pháp luật của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật đối với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và hoạt động thương mại. Hoạt động QLNN về công tác chống hàng giả được thực hiện thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chất lượng hàng hóa, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp, về đăng ký kinh doanh, xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất kinh doanh hàng hóa… được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước đối với hàng hóa, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả. Pháp luật quy định về trình tự, thủ tục, kinh phí cho công tác điều tra, xác minh, giám định, xử lý các vụ việc về hàng giả. QLNN về công tác chống hàng giả còn thể hiện ở sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN có chức năng như: Công an, Hải quan, Thương mại, Khoa học công nghệ, Đo lường chất lượng, văn hóa, … thông qua các phương tiện thông tin (báo, đài …), tuyên truyền, công cụ thanh tra, kiểm tra, công tác phối hợp trong phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hàng giả.
Vai trò của quản lý nhà nước về chống hàng giả Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, hàng hóa ngày càng đa dạng phong phú trên thị trường. Vấn nạn về hàng giả cũng ngày càng trở nên nhức nhối. Do đó, công tác đấu tranh phòng, chống hàng giả cần được quan tâm 8 sát sao nhằm tránh xảy ra những tác hại đối với nền kinh tế quốc gia nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung. Đặc biệt, công tác này còn trở nên tối quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển hoặc chậm phát triển.
Tăng cường QLNN về công tác chống hàng giả là hoàn toàn cấp thiết bởi: (1) Tăng cường QLNN về công tác chống hàng giả giúp tạo lập, duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Từ đó thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài để đầu tư phát triển, làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh và đầu tư, làm giảm thiệt hại về kinh tế và hao tổn kinh phí quốc gia do hàng giả gây ra. (2) Tăng cường QLNN về công tác chống hàng giả giúp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chân chính, qua đó khuyến khích việc đầu tư nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, sáng tạo tinh thần phục vụ cho sự phát triển, bảo vệ lợi ích cho các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính.