Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Nhân học với đề tài "Sinh kế của người Mường ở xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Anh thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2019, chuyên ngành Nhân học, mã số 9 31 03 02, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Xuân Đính và PGS. Trần Văn Thức).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dưới góc độ Nhân học, sinh kế (phương thức mưu sinh) phản ánh tập quán ứng xử của con người trước môi trường tự nhiên, đồng thời quy định các thiết chế tổ chức và văn hóa tộc người. Người Mường sinh sống tập trung tại các thung lũng chân núi ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La với nguồn sống truyền thống là làm ruộng nước kết hợp làm nương rẫy, khai thác tự nhiên và nghề thủ công gia đình. Tại miền Tây Thanh Hóa, Cẩm Lương là một xã vùng cao có đa số đồng bào Mường định cư lâu đời. Địa hình nơi đây có đặc thù phức tạp với dải thung lũng chân núi, đồi thấp, sông Mã bao bọc và hệ thống khe suối ngầm.

Từ sau công cuộc Đổi mới và đặc biệt từ khi danh thắng Suối cá Cẩm Lương được đưa vào quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Thanh Hóa, sinh kế của người Mường địa phương đã có sự chuyển biến rõ nét từ nông - lâm nghiệp tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hóa và dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, sự biến đổi này diễn ra đan xen giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, nảy sinh nhiều vấn đề về phân bổ tài nguyên, phân hóa thu nhập và phát triển bền vững. Các công trình trước đây chủ yếu tập trung nghiên cứu người Mường ở Hòa Bình hoặc chỉ tiếp cận văn hóa dân gian người Mường Thanh Hóa mà chưa có công trình nhân học chuyên sâu nào nghiên cứu toàn diện về sinh kế và biến đổi sinh kế của người Mường tại xã Cẩm Lương. Do đó, luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật và thực tiễn này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  1. Làm rõ thực trạng sinh kế hiện nay của người Mường ở địa bàn nghiên cứu, trên cơ sở phân tích và so sánh với sinh kế truyền thống.
  2. Xác định những vấn đề đang đặt ra đối với sinh kế của người Mường ở xã Cẩm Lương hiện nay trong mối quan hệ với phát triển bền vững; tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của người Mường và của địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Thu thập các nguồn tài liệu liên quan đến hoạt động sinh kế hiện nay của người Mường ở xã Cẩm Lương, gồm nông nghiệp, các nghề thủ công, các loại hình dịch vụ.
  2. Luận giải các khía cạnh liên quan đến hoạt động sinh kế hiện nay của người Mường tại địa bàn nghiên cứu: các dạng thức sinh kế gắn với các nguồn vốn sinh kế, những yếu tố tác động đến sinh kế và tác động của sinh kế đối với đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội.
  3. Nêu một số vấn đề đặt ra đối với sinh kế hiện nay của người Mường xã Cẩm Lương, tạo cơ sở khoa học để chính quyền địa phương tham khảo trong việc đề ra các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong bối cảnh kinh tế thị trường, công nghiệp hóa và hội nhập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các dạng thức sinh kế hiện nay gắn với môi trường sống của người Mường tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Cẩm Lương gồm 6 thôn: Kim Mẫm 1, Kim Mẫm 2, Lương Ngọc, Lương Hòa, Lương Thuận và Xủ Xuyên. Trong đó, tác giả tập trung khảo sát chuyên sâu tại hai thôn tiêu biểu: thôn Lương Thuận (thôn chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp nổi bật) và thôn Lương Ngọc (thôn có Suối cá, chuyển đổi mạnh mẽ sang kinh tế dịch vụ du lịch).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu sinh kế hiện nay trong khoảng 14 năm (2004 - 2017), lấy mốc thời gian bước ngoặt là tháng 9 năm 2005 (thời điểm khánh thành cầu treo bắc qua sông Mã sang thôn Kim Mẫm, phá vỡ hoàn toàn thế cô lập của xã). Các số liệu thống kê kinh tế - xã hội phục vụ luận án được thu thập chủ yếu trong giai đoạn 2015 - 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:

Các hướng nghiên cứu về sinh kế trên thế giới

  • Về nguồn gốc và kỹ thuật nông nghiệp: V. Nikitin khẳng định nông nghiệp xuất hiện từ thời nguyên thủy là phát minh thúc đẩy tích lũy tài sản và củng cố xã hội; N. Tsêbốcsarốp phân tích đặc trưng văn hóa nông nghiệp Đông Nam Á chịu sự quy định của lịch sử, tự nhiên và bị cơ giới hóa thay thế dần; G. Gromop và IU. Novichkop nhấn mạnh mối liên hệ giữa kỹ thuật học nông nghiệp với địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội từng thời kỳ; Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda xây dựng sơ đồ các thành tố hợp thành phương thức sinh tồn (thu lượm và sản xuất lương thực gồm trồng trọt quảng canh, thâm canh, cơ giới hóa và chăn nuôi).
  • Về lý thuyết và thực tiễn sinh kế bền vững: Các công trình lý thuyết của Carney và Conway (1992, 1998), Hussein và Nelson (1998), Koos Neefjes (2000). Các nghiên cứu thực nghiệm nhân học về biến đổi sinh kế của Kasi Eswarappa (tại Ấn Độ), Li Ya-Juan (nghiên cứu biến đổi sinh kế gắn với du lịch tại Quý Châu, Tây Nam Trung Quốc), Mahdi và G. Sivakoti (biến đổi sinh kế vùng cao Tây Sumatra, Indonesia).

Nghiên cứu về sinh kế các tộc người thiểu số tại Việt Nam

  • Các bộ chuyên khảo toàn diện của Viện Dân tộc học: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (2 tập) và Các dân tộc ở Việt Nam (4 tập) đều có các chương mục phân tích cơ sở kinh tế, nông nghiệp thung lũng ruộng nước của người Mường, Thái, Tày, Nùng đối sánh với phương thức làm nương rẫy vùng cao.
  • Chuyên khảo về sinh kế địa phương và tộc người: Vương Hoàng Tuyên (1963), Mạc Đường (1964), Bùi Tịnh (1978), Bùi Văn Kín (1972), Nguyễn Đình Lộc (1993), Phạm Quang Hoan (2012), Nguyễn Ngọc Thanh (2015). Nghiên cứu chuyên đề về tập quán kinh tế của Trần Bình (2004, 2005), Bùi Thị Bích Lan (2011), Bùi Minh Đạo (2000), Đoàn Đình Thi (nghiên cứu canh tác nương rẫy), Nguyễn Văn Toàn (định canh định cư Khơ Mú - Hmông), Nguyễn Đăng Hiệp Phố (sinh kế người Mạ ở Cát Tiên).
  • Nghiên cứu biến đổi sinh kế trong thời kỳ Đổi mới: Đề tài của Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng về đất đai Tây Nguyên; các dự án ứng phó thiếu lương thực của Viện Dân tộc học (Bùi Xuân Đính chủ trì nghiên cứu tại Bắc Kạn, Hòa Bình, Nghệ An); công trình của Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh về kinh tế - xã hội biên giới; các nghiên cứu sinh kế tái định cư thủy điện của Trịnh Thị Hạnh, Đinh Bá Toàn.

Nghiên cứu về người Mường và sinh kế người Mường

  • Nghiên cứu kinh điển và tổng quát: Chuyên khảo Người Mường - Địa lý nhân văn và xã hội học của Jeanne Cuisinier (1948); các công trình của Bùi Văn Kín, Nguyễn Từ Chi (Người Mường ở Hòa Bình), Nguyễn Dương Bình, Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Thị Thanh Nga (Người Mường ở Tân Lạc tỉnh Hòa Bình). Các nghiên cứu nghề thủ công truyền thống của Nguyễn Vũ, Minh Quang, Nguyễn Thị Thanh Nga; nghiên cứu đất đai của Quách Thị Oanh, Trần Đăng Tuấn, Lương Thu Hằng.
  • Nghiên cứu biến đổi sinh kế người Mường: Đề tài của Vương Xuân Tình (2004) tại Phong Phú, Tân Lạc, Hòa Bình; luận án của Nguyễn Phú Trường về mưu sinh thanh niên Mường; luận án của Trịnh Thị Hạnh về người Mường tái định cư thủy điện Hòa Bình.
  • Nghiên cứu người Mường tại Thanh Hóa và Cẩm Lương: Các công trình văn hóa dân gian của Vương Anh, Hoàng Anh Nhân, Cao Sơn Hải, Ngô Hoài Chung, Minh Hiệu; nghiên cứu tri thức địa phương trong sinh kế của Mai Văn Tùng, Trịnh Hồng Lệ; các bộ Địa chí Thanh Hóa, Địa chí huyện Cẩm Thủy (2014); khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thị Ly (2011) về giảm nghèo tại xã Cẩm Lương; luận án của Nguyen Viet Duc (2013, Đại học Victoria, New Zealand) về sinh kế người Mường huyện Cẩm Thủy và vai trò của giáo dục.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ rõ: hầu hết các công trình nghiên cứu về người Mường tập trung tại tỉnh Hòa Bình; tại Thanh Hóa, các ấn phẩm chủ yếu dừng ở sưu tầm văn nghệ dân gian hoặc khảo cứu địa chí chung. Trước luận án này, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện các dạng thức sinh kế của người Mường tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy dưới góc độ Nhân học, đặc biệt là quá trình chuyển đổi cơ cấu từ nông nghiệp ruộng nước, nương rẫy sang kinh tế dịch vụ du lịch Suối cá dưới tác động của hạ tầng giao thông và kinh tế thị trường.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm

  • Hệ thống lý thuyết tiếp cận:
    • Phương pháp luận triết học: Phép biện chứng của Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặt các hiện tượng sinh kế trong mối liên hệ hữu cơ với điều kiện tự nhiên, thiết chế làng bản, văn hóa tộc người và chính sách Nhà nước.
    • Lý thuyết Khung sinh kế bền vững (DFID - Chambers & Conway, Scoones): Xem xét các chiến lược mưu sinh dựa trên sự tiếp cận và huy động 5 nguồn vốn cơ bản gồm: Vốn tự nhiên (đất đai, rừng, nguồn nước mó/suối Ngọc, khoáng sản, cá Bỗng); Vốn vật chất (nhà sàn, nhà kiên cố, đường giao thông, cầu treo, mương phai, công cụ sản xuất, hàng quán); Vốn tài chính (tiền tích lũy, thu nhập thường xuyên, nguồn vốn vay ngân hàng); Vốn xã hội (quan hệ dòng họ, tình làng nghĩa xóm, các tổ chức đoàn thể, câu lạc bộ dịch vụ); Vốn con người (số lượng lao động, trình độ học vấn, kinh nghiệm canh tác truyền thống, kỹ năng kinh doanh dịch vụ du lịch).
    • Lý thuyết Biến đổi văn hóa (Dube, Koos Neefjes, Champer, Ashley): Tiếp cận sinh kế như một thành tố cốt lõi của văn hóa tộc người (văn hóa sản xuất). Biến đổi sinh kế diễn ra dưới áp lực thích ứng môi trường, tác động của công nghệ, chính sách vĩ mô và sự tương tác giữa cộng đồng Mường với khách du lịch và các nhóm cư dân lân cận.
    • Các tiếp cận chuyên ngành: Tiếp cận Nhân học/Dân tộc học, tiếp cận Văn hóa học (văn hóa mưu sinh), và tiếp cận hệ thống.
  • Khái niệm then chốt: Luận án định nghĩa và làm rõ các thuật ngữ: Sinh kế (livelihood), Sinh kế truyền thống, Sinh kế hiện nay, Nguồn lực mưu sinh / Vốn sinh kế, Biến đổi sinh kế (dựa trên chỉ số của Carney và Kees Vannde Vart gồm cơ cấu thu nhập, phân công lao động, chuyển dịch phi nông nghiệp và tư duy kinh tế), Sinh kế bền vững, Phát triển bền vững (tích hợp 4 tiêu chí quốc tế về kinh tế - xã hội - môi trường - văn hóa và tiêu chí ổn định chính trị theo quan điểm của Việt Nam).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp và tổng quan tài liệu: Thu thập số liệu thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo địa chính, tư liệu địa chí của huyện Cẩm Thủy và xã Cẩm Lương.
  • Phương pháp điền dã Dân tộc học (phương pháp then chốt): Tác giả thực hiện nhiều đợt điền dã tại địa phương trong các năm 2015, 2016, 2017. Trong đó, có hai đợt trọng điểm có sự chỉ đạo trực tiếp của người hướng dẫn khoa học tại thực địa: đợt 1 từ ngày 28/4 đến 05/5/2016 và đợt 2 từ ngày 24/12 đến 31/12/2017. Các kỹ thuật điền dã gồm:
    • Quan sát trực tiếp: Ghi nhận cảnh quan địa hình thung lũng, dải Trường Sinh, Động Đăng, cách bố trí nhà cửa, làng xóm và dòng chảy suối Ngọc.
    • Quan sát tham dự: Trực tiếp cùng người dân bừa ruộng, trồng, chăm sóc và thu hoạch mía nguyên liệu tại thôn Lương Thuận; chăm sóc cá lồng trên sông Mã; bán hàng, vót đũa tre tại các quầy hàng khu du lịch Suối cá Cẩm Lương; tham gia sinh hoạt cộng đồng và lễ hội.
    • Phỏng vấn sâu Dân tộc học (bán cấu trúc): Phỏng vấn các bậc cao niên, trưởng họ, thầy cúng về lịch sử cư trú và tri thức bản địa; phỏng vấn các nhóm hộ nông dân trồng lúa, trồng mía, chủ gia trại chăn nuôi, hộ nuôi cá lồng; phỏng vấn các hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống, bán hàng lưu niệm, chụp ảnh lưu niệm tại Suối cá; phỏng vấn những người thu hái lâm sản.
    • Thảo luận nhóm: Tổ chức các cuộc thảo luận tập trung gồm nhóm cao niên thôn Lương Ngọc, nhóm hộ nông dân trồng mía thôn Lương Thuận, và nhóm cán bộ cấp xã, thôn.
    • Phương pháp tìm hiểu lịch sử kinh tế hộ gia đình: Khảo sát các thế hệ trong hộ để thấy rõ sự chuyển giao tư liệu sản xuất và biến đổi nghề nghiệp.
    • Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Trao đổi với các nhà khoa học, nhà nghiên cứu Dân tộc học tại Thanh Hóa và Trung ương.
    • Phương pháp xử lý tư liệu: Sử dụng thống kê mô tả, phân tích định tính, so sánh lịch sử - dân tộc học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và giới thiệu người Mường ở địa bàn nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu, xác lập khung lý thuyết DFID và biến đổi văn hóa, đồng thời phác họa bức tranh toàn diện về tự nhiên, dân cư và địa bàn xã Cẩm Lương.

  • Vị trí địa lý và giao thông: Xã Cẩm Lương nằm ở tả ngạn sông Mã, cách trung tâm huyện Cẩm Thủy 12 km về phía Tây Bắc, cách thành phố Thanh Hóa 85 km theo Quốc lộ 217. Xã giáp Cẩm Quý và Lương Trung (Bá Thước) ở phía Bắc; ba mặt Đông Bắc, Đông, Nam và Tây Bắc bị sông Mã bao bọc, tiếp giáp Cẩm Thành, Cẩm Thạch, Cẩm Bình, Cẩm Giang. Trước tháng 9/2005, Cẩm Lương là một "ốc đảo" khép kín, việc giao thương hoàn toàn phụ thuộc vào hai bến đò ngang (bến phụ thôn Xủ Xuyên và bến cuối xã Cẩm Thạch) bằng thuyền độc mộc. Vào mùa lũ (tháng 8 đến tháng 10), xã thường xuyên bị cô lập. Tháng 9/2005, cầu treo qua sông Mã nối xã Cẩm Thành với thôn Kim Mẫm được khánh thành, mở ra bước ngoặt kết nối trực tiếp với Quốc lộ 217. Đến năm 2010, tuyến đường từ thôn Lương Thuận vượt núi Hang Bò sang xã Cẩm Giang thông ra đường Hồ Chí Minh, phá vỡ hoàn toàn thế cô lập của địa phương.
  • Điều kiện tự nhiên:
    • Địa hình: Thung lũng chân núi được bao bọc bởi dải núi đá vôi Trường Sinh (thuộc hệ Pù Luông - Cúc Phương, độ cao 200 - 400 m, đỉnh cao nhất trên 500 m, sườn dốc 25 - 30°) với các ngọn núi Hô, núi Trâu Bạc, núi U kết nối với các đồi thấp như đồi Hàm Rồng, đồi Vải, đồi Phóng. Trên núi có Động Đăng (cách Suối cá 200 m, sâu bên trong có nhánh suối dài 150 m và các khối thạch nhũ mang hình tượng dân gian như nàng tiên cá, quả đào trường sinh, bà tiên, Nữ Oa đội đá).
    • Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa ẩm, nhiệt độ trung bình 22 - 25°C, độ ẩm 65 - 68%, lượng mưa trung bình 1.900 mm/năm. Mùa hè chịu ảnh hưởng gió Lào khô nóng và lốc xoáy tháng 4; mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 10 gây lũ lớn. Mùa đông chịu gió mùa Đông Bắc, thỉnh thoảng có sương muối.
    • Thủy văn: Sông Mã chảy qua xã dài 6 km; hệ thống khe suối (hón/hól) bắt nguồn từ dải Trường Sinh gồm hón Chỏ, hón Đồng Chiêm, hón Đồng Me. Tiêu biểu nhất là suối Ngọc tại thôn Lương Ngọc (dài hơn 200 m, rộng khoảng 3 m, sâu 30 - 40 cm vào mùa cạn), nơi cư trú tự nhiên của đàn cá hàng nghìn con, chủ yếu là cá Bỗng (Spinibarbus denticulatus, trọng lượng từ 2 - 8 kg, cá chúa tới 30 kg) được đồng bào tôn kính, bảo vệ nghiêm ngặt.
  • Cơ cấu đất đai xã Cẩm Lương (năm 2015):
STT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Đất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản 1.295,97 81,25
- Đất nông nghiệp 297,00 -
- Đất lâm nghiệp 991,21 -
- Đất nuôi trồng thủy sản 7,76 -
2 Đất ở và đất chuyên dùng 205,55 12,90
- Đất ở 65,79 -
- Đất chuyên dùng 120,19 -
- Đất cơ sở tín ngưỡng 0,08 -
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa 19,12 -
- Đất mặt nước chuyên dùng 0,37 -
3 Đất sông suối 79,86 5,00
4 Đất chưa sử dụng 13,56 0,85
Tổng Tổng diện tích tự nhiên 1.594,94 100,00

(Nguồn: Bộ phận Địa chính xã Cẩm Lương, 2015)


Chương 2: Các hoạt động sinh kế sản xuất và khai thác các sản vật tự nhiên

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng các nguồn vốn và hoạt động sinh kế truyền thống cùng những chuyển dịch trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm nghiệp của người Mường tại xã Cẩm Lương:

  • Đánh giá các nguồn vốn sinh kế sản xuất:
    • Vốn tự nhiên: Quỹ đất nông nghiệp hạn chế (297 ha), đất ruộng lúa phân bố ở dạng ruộng bậc thang thấp ven chân núi. Nguồn nước phụ thuộc khe suối tự nhiên; trước năm 2000 phần lớn chỉ cấy được 1 vụ mùa, chỉ có thôn Lương Ngọc cấy được 2 vụ nhờ nước mó Ngọc.
    • Vốn vật chất: Hệ thống tư liệu sản xuất được hiện đại hóa từng bước (Bảng 2.1). Các nông cụ thủ công như cày, bừa gỗ, cối giã gạo dần được thay thế bằng máy cày tay, máy tuốt lúa, máy xay xát. Nhà ở truyền thống bằng nhà sàn gỗ lợp tranh/ngói dần được kiên cố hóa.
    • Vốn tài chính: Nguồn vốn tích lũy nội tại của các hộ còn mỏng; việc tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tăng lên trong giai đoạn 2015 - 2017 (Bảng 2.2).
    • Vốn con người: Nguồn lao động dồi dào, có kinh nghiệm canh tác lâu đời nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa qua đào tạo chiếm đa số.
  • Hoạt động trồng trọt và chăn nuôi:
    • Trồng trọt: Trồng trọt lúa nước vẫn giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ (Bảng 2.3). Bước chuyển đổi quan trọng nhất diễn ra tại thôn Lương Thuận khi đưa cây mía nguyên liệu vào sản xuất hàng hóa quy mô lớn sau khi tuyến đường Hang Bò được khai thông. Qua ý kiến phỏng vấn (Hộp 2.1 so sánh thu nhập giữa trồng mía và trồng lúa; Hộp 2.2 về tính cộng đồng và hỗ trợ đổi công trong trồng mía), cây mía mang lại giá trị kinh tế thương phẩm cao hơn hẳn trồng lúa truyền thống trên đất bãi và đồi thấp.
    • Chăn nuôi: Chuyển biến từ hình thức thả rông gia súc sang nuôi nhốt chuồng trại và hình thành một số gia trại quy mô nhỏ nuôi lợn, gà (Bảng 2.4). Đáng chú ý là việc tận dụng mặt nước sông Mã để phát triển mô hình nuôi cá lồng, bước đầu mang lại thu nhập khá cho một bộ phận hộ dân.
  • Lâm nghiệp và khai thác sản vật tự nhiên:
    • Khai thác gỗ quý suy giảm do rừng bị thu hẹp; người dân chuyển sang nhận khoán bảo vệ rừng và trồng rừng kinh tế (keo, luồng).
    • Hoạt động hái lượm sản vật tự nhiên (măng rừng, rau rừng, cây thuốc, nấm) vẫn duy trì nhưng chuyển mục đích từ tự cấp chống đói sang phục vụ buôn bán cho khách du lịch tại khu vực Suối cá. Đánh bắt cá sông Mã tiếp tục duy trì với thuyền nhỏ, lưới, vó.
  • Thủ công nghiệp và lao động công nghiệp:
    • Nghề dệt vải thổ cẩm và đan lát truyền thống từng bị mai một nay được khôi phục một phần để tạo sản phẩm bán cho du khách (vót đũa tre, dệt khăn, túi).
    • Xu hướng thanh niên và lao động trẻ rời địa phương đi làm công nhân tại các khu công nghiệp ở Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh hoặc đi xuất khẩu lao động có xu hướng gia tăng rõ rệt (Bảng 2.5), tạo nguồn kiều hối hỗ trợ vốn tài chính cho gia đình.

Chương 3: Các hoạt động dịch vụ

Chương 3 làm rõ quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu của các hoạt động dịch vụ tại xã Cẩm Lương, với trọng tâm là khu vực Suối cá Cẩm Lương:

  • Các nguồn vốn cho hoạt động dịch vụ: Cơ sở hạ tầng dịch vụ (Vốn vật chất) được đầu tư mạnh mẽ sau khi có cầu treo năm 2005. Quỹ đất kinh doanh dọc tuyến đường vào Suối cá thôn Lương Ngọc trở thành nguồn vốn tự nhiên có giá trị cao. Vốn xã hội thể hiện qua mạng lưới quan hệ gia đình, dòng họ trong việc cho mượn địa điểm kinh doanh, bán hàng giúp hoặc chia sẻ nguồn khách.
  • Bức tranh tổng thể dịch vụ ở xã Cẩm Lương: Các dịch vụ thương mại nông thôn phục vụ đời sống thường nhật (tạp hóa, xay xát, dịch vụ đám cưới, quán bia...) phát triển rải rác ở các thôn (Bảng 3.1 năm 2017). Tuy nhiên, dịch vụ phát triển mạnh và tập trung nhất vẫn là dịch vụ du lịch tại thôn Lương Ngọc.
  • Dịch vụ du lịch tại Suối cá Cẩm Lương:
    • Tiền đề hình thành: Sự hiện diện của đàn cá Bỗng kỳ lạ gắn với tín ngưỡng "cá thần" và cảnh quan Động Đăng, kết hợp với chính sách quy hoạch du lịch của tỉnh Thanh Hóa và việc xóa bỏ thế ốc đảo về giao thông năm 2005.
    • Các hình thức ban đầu: Bắt đầu từ những quán nước chè, bán hoa quả tự sản tự tiêu của các hộ dân bản địa ven suối cá trước năm 2000.
    • Sự mở rộng và đa dạng hóa: Số lượng quầy hàng, ki-ốt bán hàng lưu niệm gia tăng nhanh chóng qua các năm (Bảng 3.2). Các loại hình dịch vụ chính gồm: bán đồ lưu niệm và đặc sản (đũa cau, đũa tre, măng chua, thổ cẩm, thịt trâu gác bếp); dịch vụ ăn uống (quán cơm bình dân, đặc sản địa phương); dịch vụ chụp ảnh lưu niệm lấy ngay (hình thành Câu lạc bộ chụp ảnh Suối cá); dịch vụ trông giữ xe máy, ô tô; và bước đầu xuất hiện dịch vụ lưu trú nhà nghỉ.
    • Thực trạng qua tư liệu phỏng vấn: Luận án dẫn chứng thực tế qua các hộp phỏng vấn: Hộp 3.1 phản ánh tình trạng mở quán nhưng phải đóng cửa sớm do thiếu vốn và tính mùa vụ; Hộp 3.2 nêu lý do kinh doanh quán bia và dịch vụ phông bạt đám cưới; Hộp 3.3 làm rõ tính tương trợ họ hàng qua việc bán hàng giúp người thân; Hộp 3.4 ghi nhận hoạt động của các thành viên câu lạc bộ thợ ảnh; Hộp 3.5 phản ánh tình trạng một số hộ đầu tư xây nhà nghỉ lưu trú nhưng hiệu quả kinh tế rất thấp do khách du lịch đến Suối cá chủ yếu đi về trong ngày.

Chương 4: Một vài bàn luận từ nghiên cứu sinh kế hiện nay của người Mường xã Cẩm Lương

Chương 4 tổng hợp các kết quả thực địa để đưa ra những phân tích, đánh giá học thuật và hệ thống giải pháp:

  • Đánh giá biến đổi sinh kế:
    • Mặt tích cực: Tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm liên tục, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ (Bảng 4.1). Mức thu nhập bình quân của các hộ diện trung bình khá tại hai thôn Lương Ngọc (dịch vụ) và Lương Thuận (trồng mía) đạt mức cải thiện đáng kể trong năm 2018 (Bảng 4.2). Đời sống văn hóa, tiện nghi sinh hoạt và nhà ở của người dân được nâng cao.
    • Mặt chưa hiệu quả: Hoạt động du lịch phát triển mang tính tự phát, quy hoạch thiếu đồng bộ; các mặt hàng lưu niệm có hiện tượng trùng lặp và nhập khẩu từ nơi khác về; tính mùa vụ du lịch quá cao (chỉ đông khách dịp đầu năm, lễ tết); dịch vụ lưu trú chưa phát triển; phát sinh ô nhiễm môi trường rác thải ven suối và nguồn nước; xuất hiện sự chênh lệch giàu nghèo giữa thôn làm du lịch (Lương Ngọc) với các thôn thuần nông xa suối cá; mâu thuẫn trong việc phân chia nguồn thu từ vé tham quan và phí quản lý giữa ban quản lý và cộng đồng dân cư (Hộp 4.2).
  • Biến đổi sinh kế từ góc nhìn Nhân học/Dân tộc học:
    • Sinh kế biến đổi kéo theo sự biến đổi về vai trò giới: phụ nữ Mường tham gia tích cực vào các hoạt động bán hàng, quản lý dòng tiền và giao tiếp thương mại, làm gia tăng vị thế kinh tế của phụ nữ trong gia đình.
    • Mối quan hệ cộng đồng, dòng họ truyền thống vừa là chỗ dựa chia sẻ vốn và lao động (tính tương trợ), nhưng đồng thời chịu áp lực cạnh tranh lợi ích kinh tế thị trường làm suy giảm phần nào tính gắn kết cộng đồng nguyên bản.
  • Thuận lợi và khó khăn về sinh kế:
    • Thuận lợi: Vị trí có tài nguyên du lịch tâm linh - sinh thái Suối cá; hạ tầng giao thông kết nối liên vùng (cầu treo, đường mở rộng); sự quan tâm hỗ trợ chính sách phát triển miền núi của Nhà nước.
    • Khó khăn: Quỹ đất canh tác ít, thiên tai lũ lụt thất thường (chu kỳ 10 năm một lần như các năm 1987, 1997, 2007, 2017); nguồn vốn tích lũy mỏng; trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng nghiệp vụ du lịch của người dân còn nhiều hạn chế.
  • Đề xuất, kiến nghị của tác giả:
    • Kiến nghị chính quyền các cấp hoàn thiện quy hoạch tổng thể khu du lịch Suối cá Cẩm Lương theo hướng bền vững, gắn với bảo tồn cảnh quan rừng nguyên sinh và bảo vệ nghiêm ngặt đàn cá Bỗng.
    • Xây dựng cơ chế phân chia lợi ích hợp lý từ nguồn thu du lịch cho cộng đồng dân cư địa phương tại chỗ để người Mường thực sự là chủ thể hưởng lợi.
    • Tổ chức tập huấn, đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng, nâng cao chất lượng sản phẩm làng nghề truyền thống và bảo đảm an toàn vệ sinh môi trường.
    • Hỗ trợ vốn và kỹ thuật thâm canh nông nghiệp, ổn định diện tích mía nguyên liệu và phát triển mô hình chăn nuôi gia trại, nuôi cá lồng trên sông Mã gắn với chuỗi tiêu thụ sản phẩm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong ngành Nhân học/Dân tộc học nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về sinh kế hiện nay của người Mường tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
  • Làm rõ bức tranh thực trạng sinh kế của cộng đồng Mường địa phương trong sự vận động, so sánh giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại; chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa các phương thức mưu sinh với điều kiện cảnh quan tự nhiên thung lũng chân núi đá vôi, sông Mã và thiết chế văn hóa tộc người.
  • Vận dụng thành công lý thuyết Khung sinh kế bền vững (DFID) và lý thuyết Biến đổi văn hóa để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một tộc người thiểu số từ tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hóa và dịch vụ du lịch tâm linh - sinh thái.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và chính sách

  • Cung cấp nguồn tư liệu điền dã dân tộc học phong phú, trung thực về đời sống kinh tế - xã hội của người Mường xã Cẩm Lương trong giai đoạn từ sau năm 2005 đến năm 2018.
  • Luận giải các mâu thuẫn thực tiễn nảy sinh trong quá trình chuyển đổi sinh kế: mâu thuẫn phân chia lợi ích du lịch, hiện tượng dịch vụ tự phát, rủi ro mùa vụ và biến đổi cấu trúc xã hội truyền thống.
  • Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp giúp cấp ủy, chính quyền địa phương xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy và tỉnh Thanh Hóa xây dựng các chính sách quy hoạch du lịch cộng đồng, đào tạo nghề, bảo tồn đàn cá và phát triển kinh tế bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do điều kiện lưu trữ hồ sơ của cơ quan quản lý địa phương cấp xã có nhiều hạn chế, hệ thống số liệu thống kê thu thập về kinh tế hộ và dịch vụ chủ yếu phản ánh tập trung trong các năm 2015 - 2018; việc định lượng mức độ phụ thuộc vào nguồn lực từ bên ngoài chưa có điều kiện khảo cứu sâu; phạm vi khảo sát thực địa chuyên sâu tập trung phần lớn vào 2 thôn đại diện (Lương Ngọc và Lương Thuận).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu biến đổi sinh kế của các cộng đồng Mường lân cận dọc lưu vực sông Mã; tiếp tục theo dõi dài hạn tác động của việc thay thế cầu treo bằng cầu cứng qua sông Mã đối với cơ cấu kinh tế địa phương; đánh giá chuyên sâu về tác động sinh thái môi trường từ hoạt động du lịch đến khả năng sinh tồn và sinh sản của loài cá Bỗng tại suối Ngọc.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Là tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Địa lý kinh tế và Phát triển nông thôn. Cung cấp quy trình vận dụng khung phân tích DFID vào nghiên cứu điền dã một cộng đồng dân tộc thiểu số cụ thể.
  • Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực chứng cho Ban chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa, UBND huyện Cẩm Thủy và UBND xã Cẩm Lương trong việc quy hoạch khu du lịch Suối cá, thiết lập quy chế phân chia nguồn thu vé tham quan, giải quyết tình trạng bán hàng tự phát và xây dựng các mô hình sinh kế nông - lâm kết hợp.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống tư liệu điền dã tại Chương 2 (về phân tích 5 nguồn vốn gắn với cây mía và cá lồng) và Chương 3 (về quá trình thương mại hóa dịch vụ Suối cá cùng các trường hợp phỏng vấn sâu cụ thể).

Câu hỏi thường gặp

1. Thời điểm nào được tác giả lựa chọn làm mốc bước ngoặt cho sự biến đổi sinh kế của xã Cẩm Lương và tại sao?

Tác giả chọn mốc tháng 9 năm 2005. Đây là thời điểm cầu treo bắc qua sông Mã (nối xã Cẩm Thành với thôn Kim Mẫm) chính thức thông xe. Trước năm 2005, Cẩm Lương hoàn toàn ở thế "ốc đảo" khép kín, việc đi lại phụ thuộc đò ngang bằng thuyền độc mộc và thường xuyên bị cô lập hoàn toàn vào mùa lũ. Cây cầu treo đã kết nối trực tiếp xã với Quốc lộ 217, mở đường cho giao lưu hàng hóa và tạo động lực trực tiếp đưa hoạt động du lịch Suối cá phát triển mạnh.

2. Cơ cấu đất đai xã Cẩm Lương năm 2015 theo số liệu của luận án như thế nào?

Theo số liệu địa chính năm 2015 được tác giả thống kê tại Bảng 1.1, tổng diện tích tự nhiên của xã là 1.594,94 ha. Trong đó:

  • Đất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 81,25% (1.295,97 ha, gồm đất lâm nghiệp chiếm ưu thế với 991,21 ha, đất nông nghiệp 297,00 ha, đất nuôi trồng thủy sản 7,76 ha).
  • Đất ở và đất chuyên dùng chiếm 12,90% (205,55 ha).
  • Đất sông suối chiếm 5,00% (79,86 ha).
  • Đất chưa sử dụng chiếm 0,85% (13,56 ha).

3. Hai thôn nào được tác giả tập trung khảo sát sâu nhất và đại diện cho những dạng thức sinh kế nào?

Tác giả tập trung khảo sát nhiều thời gian nhất tại hai thôn:

  • Thôn Lương Thuận: Đại diện cho sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp nổi bật của xã, trọng tâm là việc mở rộng diện tích trồng mía nguyên liệu hàng hóa sau khi thông đường núi Hang Bò năm 2010.
  • Thôn Lương Ngọc: Đại diện cho sự chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp thuần túy sang kinh tế thương mại - dịch vụ du lịch gắn liền với danh thắng Suối cá Cẩm Lương.

4. Đàn cá tại Suối cá Cẩm Lương gồm loài cá chủ yếu nào và có đặc điểm sinh thái ra sao?

Theo khảo cứu của luận án, đàn cá tại đoạn suối Ngọc (dài hơn 200 m, rộng chừng 3 m, sâu 30 - 40 cm vào mùa cạn) có hàng nghìn con, loài chiếm số lượng đông nhất là cá Bỗng (tên khoa học là Spinibarbus denticulatus). Trọng lượng mỗi con trung bình từ 2 kg đến 8 kg, cá chúa có thể nặng tới 30 kg. Đàn cá sống dựa vào nguồn nước khe ngầm từ dải núi đá vôi Trường Sinh, được người dân tôn kính như "cá thần" và có ý thức bảo tồn nghiêm ngặt.

5. Khung lý thuyết và các nguồn vốn sinh kế nào được vận dụng xuyên suốt trong luận án?

Luận án vận dụng Khung sinh kế bền vững của DFID và lý thuyết Biến đổi văn hóa. Quá trình phân tích sinh kế của người Mường xã Cẩm Lương được bóc tách thông qua 5 nguồn vốn: Vốn tự nhiên (đất đai, rừng, sông suối, cá Bỗng), Vốn vật chất (nhà cửa, công cụ cơ giới, hạ tầng đường cầu, hàng quán), Vốn tài chính (tiền tích lũy, vốn vay ngân hàng), Vốn xã hội (quan hệ dòng họ, tình làng nghĩa xóm, các tổ chức liên kết), và Vốn con người (số lượng lao động, trình độ học vấn, kinh nghiệm bản địa).


Kết luận

Luận án tiến sĩ Nhân học của Nguyễn Thế Anh là công trình khảo cứu chuyên sâu, phản ánh chân thực bức tranh biến đổi sinh kế của người Mường tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa từ kinh tế truyền thống sang kinh tế hàng hóa và dịch vụ du lịch. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung sinh kế bền vững DFID với phương pháp điền dã dân tộc học, công trình đã làm rõ thực trạng các nguồn vốn, những thành tựu giảm nghèo cũng như các bất cập về tính tự phát, mùa vụ và mâu thuẫn phân chia lợi ích tại địa phương. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và nguồn dữ liệu thực chứng có giá trị cho công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hóa cộng đồng người Mường tại khu vực miền núi Thanh Hóa.