Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU NGƯỜI MƯỜNG Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về sinh kế các tộc người Đến nay, đã có một khối lượng các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về sinh kế, trong đó chiếm số đông là các công trình liên quan đến hoạt động nông nghiệp… Liên quan đến lịch sử nghiên cứu của đề tài, có hai vấn đề cần tập trung làm rõ đó là tình hình nghiên cứu về sinh kế nói chung và nghiên cứu về sinh kế người Mường nói riêng. Một số công trình nghiên cứu về sinh kế của các học giả nước ngoài Sinh kế của các tộc người, các nhóm cư dân có nhiều hình thức khác nhau.
Với người Mường, hoạt động sinh kế chủ yếu là nông nghiệp, nên chúng tôi trình bày một số công trình liên quan đến lĩnh vực này. Trong Sự xuất hiện và phát triển của nông nghiệp, các tác giả V.Nikitin cho rằng, nông nghiệp xuất hiện ngay trong thời đại công xã nguyên thủy và là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của năng suất lao động và sự tích lũy tài sản, dẫn tới chỗ củng cố và thịnh đạt của xã hội nguyên thủy. Từ đó, tác giả đã khẳng định, nông nghiệp là một trong những phát minh vĩ đại nhất của con người [125]. Khi bàn về nông nghiệp ở Đông Nam Á, N.Tsêbốcsarốp khẳng định, những đặc trưng văn hóa nông nghiệp của các dân tộc ở Đông Nam Á đã hình thành từ những điều kiện lịch sử nhất định và nó được định đoạt bởi sự phát triển kinh tế - xã hội và hoàn cảnh tự nhiên.
Tuy vậy, những đặc trưng đó được cũng cố bởi truyền thống, trở thành những đặc điểm đối với các dân tộc 9 riêng biệt trong một thời kỳ lâu dài, dần dần biến mất với sự xuất hiện trong các dân tộc ấy nền nông nghiệp cơ giới hiện đại [145]. Trong công trình nghiên cứu về dân tộc học nông nghiệp, các tác giả G.Gromop và IU. Novichkop cho rằng, khi nghiên cứu các giải pháp trong làm nông nghiệp (kỹ thuật học nông nghiệp) cần phải xem xét đến những đặc điểm về điều kiện địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội mà các tộc người, các nhóm cư dân đang sống với điều kiện của các giai đoạn lịch sử [133]. Schultz và Robert H.
Lavenda sử dụng các khái niệm “Phương cách sinh tồn”, “Phương thức mưu sinh” trong nghiên cứu kinh tế và cho rằng, con người tự tạo ra những cách thức sử dụng các mối quan hệ với môi trường tự nhiên và giữa họ với nhau để kiếm sống. Sinh tồn là một từ được dùng để chỉ việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất thiết yếu nhất trong quá trình sinh sống của con người, chủ yếu là nhu cầu về thức ăn, quần áo và chỗ ở. Những cách khác nhau mà con người ở các xã hội khác nhau dùng để thỏa mãn nhu cầu này được gọi là những phương thức sinh tồn… Nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến sinh kế của các cư dân nông nghiệp, đã đưa ra một sơ đồ các thành tố hợp thành phương thức sinh tồn gồm hai thành tố phân theo ba cấp độ. Cấp một là thu lượm lương thực và sản xuất lương thực.
Cấp độ hai, sản xuất lương thực lại gồm hai thành tố hợp thành là chăn nuôi và trồng trọt. Cấp độ ba, trồng trọt gồm nông nghiệp quảng canh, nông nghiệp thâm canh và nông nghiệp cở giới hóa [132]. Sinh kế được các nhà nghiên cứu đề cập cả trên bình diện lý thuyết và thực tiễn. Về lý thuyết, có các công trình của Carney.
and Conway [129], Hussein, K & Nelson [134], Koos Nefjes [137]…Về thực tiễn, có luận án của Kasi Eswarappa nghiên cứu nhân học về sinh kế tại hai khu định cư sugali ở quận Anantupua của Andhra Pradeshe [135], về thay đổi sinh kế và sự phát triển của các cộng đồng dân tộc vùng cao được thúc đẩy bởi du lịch: trường hợp 10 của tỉnh Quý Châu, Tây Nam Trung Quốc) của Li Ya- Juan [138], Mahdi, Sivakoti, G. đề cập đến thay đổi sinh kế và sinh kế bền vững ở vùng cao của tiểu vùng Lembang, Tây Sumatra, Indonesia, trong bối cảnh quản lý tài nguyên thiên nhiên đang thay đổi [139], 1. Nghiên cứu về sinh kế ở Việt Nam Ở Việt Nam, không kể các phần viết trong các cuốn địa chí được xuất bản dưới thời phong kiến, từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, khi ngành Dân tộc học ra đời, đã có một lượng lớn các công trình dưới các thể loại khác nhau về hoạt động sinh kế của các tộc người. Ngoài các cuốn sách, các đề tài khoa học các cấp, các luận án phó tiến sĩ (từ năm 2000 trở đi là tiến sĩ), còn có rất nhiều các bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành.
Chỉ riêng Tạp chí Dân tộc học, từ năm 1972 đến năm 2015 đã có trên 200 bài liên quan đến các khía cạnh về sinh kế các tộc người được đăng tải. Phần Tổng quan này chỉ đề cập đến các công trình Dân tộc học/Nhân học bàn về sinh kế của các tộc người thiểu số, tập trung ở miền núi phía Bắc. Điểm đầu tiên có thể nhận thấy là đa số các công trình đều tập trung nghiên cứu về sinh kế truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta. Có thể phân thành các nhóm công trình tiêu biểu sau: - Các chuyên khảo giới thiệu chung về các tộc người thiểu số ở nước ta, như bộ sách hai tập Các dân tộc ít người ở Việt Nam do Viện Dân tộc học biên soạn [114, 115] và đặc biệt là bộ sách gồm bốn tập Các dân tộc ở Việt Nam cũng do Viện Dân tộc học biên soạn [116, 117, 118, 119].
Trong nội dung giới thiệu về các tộc người thuộc các nhóm ngôn ngữ, đều có phần viết về sinh kế (cơ sở kinh tế) của mỗi tộc. - Các chuyên khảo về kinh tế - xã hội của các tộc người thiểu số và miền núi, như Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc [14], Một số vấn đề kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc [112], Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi [27]. 11 - Các công trình giới thiệu về các tộc ở các địa phương, khu vực như Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam của Vương Hoàng Tuyên [88], Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ của Mạc Đường [31], Các dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam của Bùi Tịnh và các cộng sự [86], Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình do Bùi Văn Kín chủ biên [54], Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An của Nguyễn Đình Lộc [62], Văn hóa các tộc người vùng lòng hồ và vùng tái định cư Thủy điện Sơn La do Phạm Quang Hoan chủ biên [47], Văn hóa các dân tộc vùng lòng hồ thủy điện Lai Châu do Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên [93]. - Các chuyên khảo về các tộc người, các nhóm tộc người thuộc các nhóm ngôn ngữ, như Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam [60], Các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Việt Nam [111], Văn hóa và nếp sống Hà Nhì - Lô Lô [49], Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam [113]; hoặc các chuyên khảo riêng về từng tộc người, như Người Dao ở Việt Nam [26], Người Sán Dìu ở Việt Nam [3], Dân tộc Xinh Mun ở Việt Nam [4], Dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam [15], Dân tộc La Hủ ở Việt Nam [16], Dân tộc Si La ở Việt Nam [17], Dân tộc Cờ Lao ở Việt Nam: truyền thống và biến đổi [45], Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam [18], Đến với người Tày và văn hóa Tày [121], Dân tộc Kháng ở Việt Nam [48] v.
- Các chuyên khảo riêng về sinh kế của các tộc người, tiêu biểu là hai tập sách Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam [5], Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam của Trần Bình [6]; luận án tiến sĩ của Bùi Thị Bích Lan Hoạt động mưu sinh của người Kháng ở xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La [55]. Một số chuyên khảo về từng khía cạnh của sinh kế, như Trồng trọt của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên của Bùi Minh Đạo [25], Các dân tộc Tày Nùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật [37], hoặc tuy không đề cập trực diện, nhưng đều có liên quan đến sinh kế, như đề tài cấp bộ Một số vấn đề cơ bản về canh 12 tác nương rẫy do Đoàn Đình Thi chủ biên [96], các luận án tiến sĩ Định canh định cư của người Khơ - mú và người Hmông huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An của Nguyễn Văn Toàn [87], Sinh kế của người Mạ ở vườn quốc gia Cát Tiên của Nguyễn Đăng Hiệp Phố [74] v. Trong các thể loại công trình trên, hoạt động mưu sinh truyền thống của các tộc người được phản ánh qua các ngành kinh tế (nông nghiệp, nghề thủ công và trao đổi buôn bán). Trong nông nghiệp, các công trình đã chỉ rõ, trồng trọt là bộ phận chủ đạo của nông nghiệp - cơ sở kinh tế chính, do vậy cũng là hoạt động mưu sinh chính của các tộc người ở nước ta.
Tùy điều kiện cảnh quan (chủ yếu là địa hình) mà các tộc người hoặc làm ruộng nước trong các thung lũng chân núi (như người Thái, Mường, Tày, Nùng, Lự) hay ở đồng bằng (Chăm, Khơ - me); hoặc làm nương rẫy (đa số các tộc thiểu số thuộc các nhóm ngôn ngữ); các tộc Hmông, Hà Nhì, Lô Lô… tạo ra những cánh đồng ruộng bậc thang, trở thành những kiệt tác, kết hợp giữa thiên nhiên và bàn tay con người. Người Hmông ở các huyện vùng cao núi đá còn có nương thổ canh hốc đá, sinh sống cả đời với cây ngô [69].