Chương I: Một số vấn đề lý luận về công tác Phát triển nguồn nhân - Chương 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực tại Công ty “TNHH Môi trường Đô thị Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. - Chương 3: Giải pháp để hoàn thiện công tác phát triển nguồn nhân lực. tại Công ty TNHH Môi trường Đô thị Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thời gian tới. Tổng quan tài liệu nghiên cứu a.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Quan điểm của các nhà nghiên cứu thuộc UNDP (United Natons Development programme) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của năm nhân tố: giáo dục - đào tạo, sức khoẻ và dinh dưỡng, môi trường việc làm và sự giải phóng con người. Trong quá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó, giáo dục - đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác.” Quan điểm sử dụng năng lực con người của ILO (International Labour Organization) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực, là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó đề ến có được việc làm hiệu quả cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”. Gần đây, nhiều nghiên cứu về phương pháp luận và nội dung phát triển nguồn nhân lực đã được công bố. Tiêu biểu nhất có thể kể đến là các tác giả như Charles cowell và cộng sự và một số tác giả khác như: W.clayton Allen và Richảd A.
Swanson (2006), Timothy Mc Clernon và Paul B. Các nghiên cứu này đều thống nhất “Mô hình đào tạo mang tính hệ thống gồm phân tích, thiết kế, phát triển, thực hiện và đánh giá (ADDIE)” được sử dụng trên 30 năm qua trên thế giới là những nội dung cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực. Tình hình nghiên cứu trong nước Theo GS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh thì phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cầu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Luận án tiến sĩ kinh tế của Phan Thuy Chi (2008): “Dao tao va phat triénnguén nhan luc trong các trường đại học khối kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc t”.
Đây là một nghiên cứu khá hệ thống về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở các trường đại học nhưng giới hạn ở việc khảo sát các tác động thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế. Giáo trình Quản trị nhân lực do ThS. Nguyễn Văn Điềm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (2011). Cuốn sách giới thiệu tông quan về quản trị nguồn nhân lực.
Nội dung sách có mười chín chương và chương IX: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” đã trình bày một cách rõ ràng về nội dung, n trình, phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Bài báo khoa học: “Mộr vấn đề về đào tạo và phát triển nguôn nhân lực” của PGS.TS Võ Xuân Tiến trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Bài báo này làm sáng tỏ nội dung: Nguồn nhân lực là nguồn lực quí nhất của các tổ chức, đơn vị, là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong tương lai. Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình.
Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Qua đó, bài báo đã làm rõ các nội dung của phát triển nguồn nhân lực và được tham khảo để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài. Bài báo khoa học: “Phát huy nguôn nhân lực bằng động lực thúc đẩy” của ThS. Nguyễn Văn Long trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
Bài viết đã nêu bật được ý nghĩa và vai trò quan trọng của động lực thúc đây i với người lao động. Qua đó, bài viết cũng đã làm rõ nội dung và các yếu tố Doanh nghiệp có thể sử dụng để nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng động lực thúc đầy. Phạm Hữu Thu nghiên cứu đề tài: “Phát triển nguôn nhân lựcquản lý tại Tổng công ty Sông Đà” (Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh). Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực quản lý tại Tổng công ty Sông Đà, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực quản lý tại “Tổng công ty Sông Đà như: Hoàn thiện công tác quy hoạch; Làm tốt công tác đào tạo, ¡ dưỡng nguồn nhân lực quản lý; Xây dựng chính sách thu hút nguồn nhân lực quản lý chất lượng cao; Bồ trí, sử dụng và luân chuyển cán bộ hợp lý; “Tạo động lực thúc đi Thân Trọng Tran Thi n; iên cứu đề tài: “Nâng cao động lực thúc 5 người lao động tại Công ty cổ phân công nghệ phần mềm Đà Nẵng” (Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh).
Tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao động lực thúc đây cho người lao động tại Công ty. Đánh giá tông quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đến nay ở Việt Nam và nước ngoài đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về Phát triển nguồn nhân lực. Các công trình đã nghiên cứu, đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề phát triển nguồn nhân lực; Một giả bàn đến hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong một số ngành cụ thể, một số tác giả tập trung nghiên cứu các giải pháp phát triển chất lượng con người. Phát triển nguồn nhân lực là phát triển về số lượng và chất lượng con người, bao gồm thể chất và tỉnh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực, phâm chất và kinh nghiệm sống.
Song, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào. mang tính toàn diện và có hệ thống về phát triển nguồn nhân lực cho Công ty 'TNHH Môi trường Đô thị Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Nhận thức rõ điều đó, đề tài đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu, đồng thời tiến hành chọn Công ty TNHH Môi trường Đô thị Quy Nhơn, tỉnh Bình Định làm nghiên cứu chuyên sâu. CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE CONG TAC PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC 1.
KHAI QUAT VE CONG TAC PHAT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm &. Nhân lực Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực, trí lực và nhân cách [10]. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng.
sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người. Nhân cách được xem là toàn bộ những đặc điểm phẩm chất tâm lý của cá nhân, qui định giá trị xã hội và hành vi của họ.
Nguôn nhân lực Đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực thể dưới nhiều góc độ khác nhau, đó là: Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong doanh nghiệp, bắt kể vai trò của họ là gì [26]. Theo ý kiến này, nói đến nguồn nhân lực là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh. Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tỉnh thần được huy động vào quá trình lao động. Khác với quan niệm trên, ở đây đã xem xét vấn đề ở trạng thái động.
Theo Tổng cục Thống kê: Nguồn nhân lực xã hội, khi tính toán bao gồm. những người ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Một số quốc gia quan niệm nguồn nhân lực quốc gia là toàn bộ những người ước vào tuôi lao động trở lên, có khả năng lao động. Quan điểm nay chi nhìn nhân lực là lực lượng lao động ở góc độ phục vụ cho công tác thống kế.
Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả các kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, là tông thể tiềm. năng lao động của con người. Theo Begg, Ficher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có trì thức, kỹ năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có phẩm chat tam ly như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng. tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn g. Quan điểm các doanh nghiệp: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là số người trong danh sách của doanh nghiệp do doanh nghiệp trả lương. Theo cơ cấu chức năng, nguồn nhân lực doanh nghiệp chia làm hai loại: Viên chức quản lý và công nhân.
Theo thời gian làm việc, nguồn nhân lực được phân thành lao động hợp đồng không xác định thời hạn; xác định thời hạn và lao động vụ việc. Như vậy, doanh nghiệp nhìn nhận nguồn nhân lực trong phạm vi lực lượng lao động trực tiếp sản xuất cho doanh nghiệp. Nguồn nhân lực bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bắt cứ đặc điểm nào khác của người lao động [34]. Nguồn nhân lực là tổng khả năng lao động của tất cả những người tham gia lao động trong doanh nghiệp.
Về mặt số lượng, khái niệm nguồn nhân lực có phạm vi rộng hơn khái niệm nguồn lao động vì nguồn nhân lực bao hàm cả những người không nằm trong độ tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia lao động. Về mặt chất lượng, khái niệm nguồn nhân lực là khái niệm mới theo nghĩa nhấn mạnh, đề cao khía cạnh chất lượng của lao động. Mặc dù không. thể tách rời một cách máy móc giữa số lượng và chất lượng lao động, song rõ ràng để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên tri thức thì khía cạnh chất lượng ngày càng trở nên quan trọng.