Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực - Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua - Chương 3: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nguồn nhân lực là một nguồn lực có vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển của mỗi địa phương, của ngành, của tổ chức hay của một quốc gia. Hiện nay, với tiến bộ của Khoa hoc — Công nghệ thì một lần nữa nguồn lực này lại khẳng định vai trò quan trọng của nó trong sự phát triển. Chính vì thế, thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp đề cập van dé nay.TS Võ Xuân Tiến trong nghiên cứu về: “Một số vấn đề vẻ đào tạo.
và phát triển nguôn nhân lực”, được đăng ở Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng (2010). Nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đóm nghiên cứu đã làm rõ luận điểm phát triển nguồn nhân lực, các động cơ thúc đẩy người lao động và các yêu cầu của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.TS Phan Văn Kha trong nghiên cứu về: “Đảo (qo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” đã cho rằng phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển nguồn lực con người từ dạng tiềm năng thành vốn con người, vốn nhân lực và chuyển vốn này vào hoạt động kinh tế - xã hội. Xét về cá nhân, phát triển nguồn nhân lực và việc nâng cao sức khỏe,trí tuệ, đạo đức, năng lực chuyên môn, sự lành nghề, kỹ năng thực hành đề tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh trong tác phẩm “Nâng cao chất lượng nguôn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HDH đất nước”: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô) và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý.
Cả ba mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu trong phát triển nguôn nhân lực gắn chặt nhau, trong đó yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển là chất lượng nguồn nhân lực phải được nâng cao. Đối với lĩnh vực y tế, cũng có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực này như: ~ Đề án quy hoạch phát triển mạng lưới khám bệnh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 của Bộ Y tế (2007). ~ Quy hoạch phát triển nhân lực và hệ thống đào tạo y tế đến năm 2020 của Bộ Y tế (2009). - Viện Chiến lược và Chính sách y tế, thuộc bộ Y tế có công trình nghiên cứu: “Quản Jý nguồn nhân lực y tế trong thời kỳ CNH - HDH đất nước”, là một nhánh đề tài cấp Nhà nước KX-05-11.
- “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác giáo dục nhân lực y tế tại Việt Nam” là một dự án được Bộ Giáo dục — Đào tạo triển khai. Dự án do Trường đại học Y tế công cộng triển khai, gồm chuỗi 3 nghiên cứu: nhân lực. bác sĩ đa khoa, điều dưỡng và cử nhân y tế công cộng. Các chuyên gia cho biết, nghiên cứu về nhân lực bác sĩ đa khoa, điều dưỡng và cử nhân y tế công cộng được thực hiện tại 11 trường đại học và 6 trường cao đẳng nhằm đánh giá thực trạng và các chính sách hỗ trợ đào tạo cho nguồn nhân lực y tế tại Việt Nam.
Nghiên cứu chỉ ra rằng: trung bình cả nước có 6,5 bác sĩ/10000 dân số, phân bổ không đều, chủ yếu ở thành thị, vùng kinh tế phát triển Trung bình có 10,4 điều dưỡng/10000 dân, chất lượng yếu, chủ yếu là trình độ sơ cấp, trung cấp, phân bổ không đều. Số lượng cán bộ y tế dự phòng ở tuyến tỉnh chỉ bằng 2/3 nhu cầu, tuyến hyện chỉ bằng 1/2 nhu cầu - Tháng 4/2012, trường đại học Y Dược Huế tổ chức hội thảo về phát triển nguồn nhân lực ngành y tế với sự tham dự của các chuyên gia, giảng viên, các nhà khoa học trong và ngoài nước, lãnh đạo các sở y tế các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Theo các chuyên gia, nguồn nhân lực y tế hiện còn thiếu về số lượng và chất lượng của nhân lực y tế chưa đáp ứng công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân hiện nay. Và đó là vấn đề cấp bách của thế giới, trong đó có Việt Nam.
- Sở Y tế thành phố Đà Nẵng đã xây dựng “Kế hoạch phát triển nhân lực ngành y tế giai đoạn 2011 ~ 2015 và định hướng đến năm 2020”, “Quy hoạch tông thể ngành Y tế thành phố Đà Nẵng đến năm 2020”, kế hoạch và quy hoạch cũng nêu ra những khó khăn, bắt cập trong phát triển nguồn nhân lực y tế thành phó trong thời gian qua, và đề ra một số giải pháp để phát triển nguồn nhân lực y tế thành phó trong thời gian đến. Nói tóm lại, các công trình trên đã nghiên cứu nguồn nhân lực y tế dưới nhiều góc độ khác nhau. Các nghiên cứu đã chỉ ra được mặt tích cực cũng như mặt hạn chế của nguồn nhân lực y tế hiện nay. Tuy nhiên, chưa có có nghiên cứu cụ thể nào về tình hình nguồn nhân lực y tế của tỉnh Đắk Lắk, nên bản thân đã lựa chọn đề nghiên cứu không trung với bắt kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố.
Luận văn này cũng kế thừa những kết quả nghiên cứu. của các công trình trên, từ đó áp dụng vào thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp hiểu quả đề phát triển nguồn nhân lực y tế của tỉnh. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. KHÁI QUÁT VÈ PHÁT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC 1.
Một số khái niệm +. Nhân lực Một quốc gia muốn phát triển được thì cần có các nguồn lực như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người. Trong các nguồn lực đó thì con người có vị trí trọng yếu nhất, mang tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Một quốc gia mặc dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc, trang thiết bị, khoa học - công nghệ hiện đại, tiên tiến nhưng không có con người có đủ trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thé dat được sự phát triển như mong muốn.
Vậy nhân lực là gì? Có thể tiếp cận một số quan điểm về nhân lực như sau: * Nhân lực được xem là nguồn lao động sống, và có mối quan hệ khăn khít với các yếu tố khác trong tổ chức hay trong quá trình sản xuất. Nó giữ vai trò quyết định các yếu tố đầu vào trong quá trình lao động, sản xuất. Tùy thuộc vào từng loại hình tổ chức mà đòi hỏi phải có cơ cấu, số lượng và chất lượng của nhân lực sao cho hợp lý, nhằm mục đích duy nhất là hoàn thành tốt nhiệm vụ của tổ chức đó. + Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động. Rất nhiều cách tiếp cận về nó nhưng chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn như sau: “Nhân lực là nguôn lực của mỗi con người, gồm thể lực, trí lực và nhân cách ”. Trong đó: * Thể lực chỉ sức lực của cơ thể người. Thể lực giúp cho con người có khả năng làm các công việc liên quan đến sức vóc, cơ bắp.
hay nói cách khác là con người có sức lạo động. Thể lực phụ thuộc vào sức khỏe, về chế độ ăn uống, nghĩ ngơi, về mức sống, về chế độ y tế. của từng người. Hiện nay, sự nghiệp CNH - HĐH của đất nước gắn liền việc áp dụng phô biến các phương pháp sản xuất công nghiệp, các thiết bị và công nghệ hiện đại, do đó hỏi người lao động phải có sức khỏe, thể lực cường tráng và tỉnh thần thoải mái để tham gia vào quá trình lao động một cách hăng say hơn.
* Trí lực chỉ năng lực trí tuệ của con người. Trí lực là khả năng phân tích và giải quyết vấn đề, đồng thời cũng là năng lực nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Trí lực ảnh hưởng đến khả năng tư duy, tiếp thu khoa học - công. nghệ, năng lực sáng tạo trong công việc, + Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ mối quan hệ qua lại của người đó với những người khác, với tổ chức, với xã hội và cả với thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ cho đến tương lai.
Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng, và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc. Nguồn nhân lực “Thuật ngữ nguồn nhân lực đã xuất hiện từ thập niên 80 của thế kỷ XX ở các nước tiên tiến, khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong quá trình sản xuất và lao động. Điều đó đã thể hiện một sự nhìn nhận vai trò của con người trong quá trình phát triển. Nếu như trước đây, phương thức quản trị nguồn nhân lực với đặc trưng, coi nhân viên là lực lượng phụ thuộc và cần khai thác triệt đề, tối đa sức lao.
động của họ với một chỉ phí tối thiểu nhất, thì từ những năm thập niên 80 của thé ki XX dén nay với phương thức mới coi nhân viên là lực lượng nòng cét, việc quản lý nguồn nhân lực trở nên linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động phát huy được các tiềm năng vốn có. Nguồn nhân lực ở đây là nguồn lực về con người, và được nghiên cứu. trên nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Ở mỗi khía cạnh, góc độ thì nguồn nhân lực được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau nhưng chung quy lại nội dung.
của nó tương tự giống nhau, chỉ khác nhau về phạm vi.