Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DICH VU, CHAT LUQNG DỊCH VỤ VÀ CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ BỆNH VIỆN 1. Định nghĩa Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ. Theo Berry (1990), dịch vụ là một sản phẩm vô hình liên quan đến hành động, sự thực hiện hay nỗ lực nào đó mà không thể chiếm hữu vé mit vat ly. Theo Zeithaml va Britner (2000), dich vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Theo Kotler và Armstrong (2004) [30], dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Dịch vụ là một tập hợp các hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợp ích tổng thẻ. Do đó trong dịch vụ người ta thường phân ra theo hai mức là dịch vụ cốt lõi và các dịch vụ bao quanh. Dịch vụ cốt lõi là dịch vụ cơ bản, địch vụ chủ yếu mà doanh nghiệp.
cung cấp cho thị trường. Nó thỏa mãn một loại nhu cầu nhất định vì nó mang, lại một loại giá trị lợi ích cụ thể. Dịch vụ cốt lõi gắn liền với hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ và lõi kỹ thuật của dịch vụ. Mỗi một dịch vụ cung ứng cho khách hàng trên thị trường bao giờ cũng có phần cốt lõi, cơ bản của nó.
Dịch vụ cốt lõi có thể chiếm tới 70% chỉ phí của dịch vụ tổng thể song tác động để khách hàng nhận biết không lớn thường chiếm khoảng 30%. Dịch vụ bao quanh là những dịch vụ phụ, nó tạo ra những giá trị phụ thêm cho khách hàng, giúp khách hàng có những cảm nhận tốt hơn về dịch vụ cốt lõi. Dịch vụ bao quanh chiếm khoảng 30% chỉ phí song gây tới 70% ảnh hưởng tác động tới khách hàng. Những đặc tính của dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ.
Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thẻ nhận dạng bằng mắt thường được. Tính vô hình Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình mua sản phẩm vật chất, khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lượng, trước khi mua nhưng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá như thế. Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” như sản phẩm vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thê cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất.
Tính không đồng nhắt Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “cao cấp”, “phô thông” đến “thứ cấp”. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vào một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể.
Tính không thể tách rời Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở khó thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch rồi là giai đoạn sản xuất (production) và giai đoạn sử dụng (consumption). Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường. diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau. Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó.
Tính không thể cất trữ Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại. Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Chất lượng dịch vụ 1.
Một số định nghĩa Chất lượng là một cụm từ không rõ ràng, khó hiểu và khó định nghĩa. Thường có sự nhằm lẫn với những tính từ mơ hồ như “tính tốt hoặc cao cấp hoặc bóng bảy hoặc mức độ quan trọng” (Grosby 1979), người tiêu dùng không dễ dàng hiểu, đánh giá chất lượng và yêu cầu về chất lượng. Giải thích và đo lường chất lượng cũng là một khó khăn cho các nhà nghiên cứu (Monreo and Krishman 1983) Trong một thời gian rất dài những nỗ lực trong việc định nghĩa và đo. lường chất lượng được thực hiện rộng rãi trong lĩnh vực hàng hóa.
Theo nhà khoa học Nhật Bản, chất lượng là “không có khuyết - thực hiện đúng ngay từ lần đầu tiên”. Grosby (1979) định nghĩa chất lượng như là “sự phù hợp với nhu cầu”. Garvin (1983) đo lường chất lượng bằng việc đếm tỉ lệ mắc lỗi "bên trong” (những đối tượng được quan sát theo dõi trước khi đưa ra khỏi nhà máy) và bên ngoài “những lỗi trong phạm vi quan sát sau khi một đơn vị thiết bị đã được lắp đặt". Juran (1980) thi dinh nghĩa chất lượng như là “sự phù hợp cho việc sử dụng”.
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thé tao cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cau tiém in” (ISO 8402). Theo European Organization for Quality Control, chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng. American National Stands Institute (ANSI) va American Society for Quality (ASQ) đã định nghĩa chất lượng là “tổng hợp những đặc tính và đặc điểm của một sản phẩm hay dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng”. Việc xem xét chất lượng như sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng thường, được gọi là phù hợp với sử dụng Trong thị trường có tính cạnh tranh cao, nếu chỉ thỏa mãn nhu cầu khách hàng sẽ không thẻ thành công.
Để chống lại cạnh tranh, các tổ chức phải đáp ứng trên cả sự mong đợi của khách hàng. Do đó, một trong số các định nghĩa phổ biến về chất lượng đó là đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc đáp ứng vượt qua sự mong đợi của khách hàng. Đặc điểm của chất lượng - Chất lượng được đo bằng sự thỏa mãn các yêu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không đáp ứng được yêu cầu, không được thị trường.
chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ đề chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà quản lý định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình. ~ Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn các yêu cầu, mà yêu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn biến đôi theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. Vì vậy phải định kỳ xem xét lại các yêu cầu chất lượng.
~ Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần phải xét mọi đặc tính của đối tượng, có liên quan đến sự thoả mãn những yêu cầu cụ thể. ~ Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá. Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể, có thể là sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một doanh nghiệp hay một con người. - Cần phân biệt giữa chất lượng va cấp chất lượng.
Cấp chất lượng là chủng loại hay thứ hạng của các yêu cầu chất lượng khác nhau đối với sản phẩm, quá trình hay hệ thống có cùng chức năng sử dụng. Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ được thảo luận trong một số bài viết (Gronroos 1982; Lehtimen and Lehtimen 1982; Lewis and Booms 1983; Sasser, Olsen, and Wyckoff 1978) [31]. Qua nghiên cứu những bài viết và những tải liệu khác về dịch vụ Parasuraman đã đưa ra ba vấn đề sau: ~ _ Chất lượng dịch vụ khó đánh giá hơn chat lượng hàng hóa. -_ Chất lượng dịch vụ là kết quả cảm nhận từ việc so sánh mong đợi của khách hàng với việc thực tế sử dụng dịch vụ.
~_ Đánh giá chất lượng không chỉ đánh giá kết quả của dịch vụ mà còn bao gồm cả việc đánh giá trong quá trình cung cấp dịch vụ. Chất lượng dịch vụ khó đánh giá[31]: Khi mua hàng hóa, người tiêu dùng có thẻ đánh giá chất lượng hang hóa thông qua: kiêu dáng, sự rắn chắc, màu sắc, nhãn hiệu, cảm giác, bao bì, vừa vặn. Khi chúng ta sử dụng dịch vụ thì tính hữu hình của nó ít hơn. Trong hầu hết các trường hợp, bằng chứng về sự hữu hình bị giới hạn bởi cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân viên của nhà cung cấp dịch vụ.
Thiếu những bằng chứng hữu hình để đánh giá chất lượng, khách hàng phải mở rộng sự nhận biết khác. Một số tác giả đã đề nghị rằng giá cả trở thành người chỉ dẫn chất lượng then chốt trong trường hợp những thông tin khác không có giá trị Chính vì sự vô hình của dịch vụ, một công ty, một tô chức gặp rất nhiều khó khăn dé hiểu được làm thế nào khách hàng hiểu được dịch vụ và chat lượng dịch vụ mà mình cung cấp. -10- Chất lượng là so sánh mong đợi và thực tế sử dụng dịch vụ [31]: Những nhà nghiên cứu và quản lý của những công ty dịch vụ đã đồng quan điểm cho rằng chất lượng dịch vụ bao gồm sự so sánh giữa sự mong đợi với quá trình sử dụng dịch vụ. “Chất lượng dịch vụ là đo lường mức độ thực hiện dịch vụ có phù hợp với mong đợi của khách hàng.
Chất lượng thực hiện dịch vụ có nghĩa là làm cho phù hợp với mong đợi. Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến cho khách hàng có tương xứng hay không với sự mong đợi một chất lượng tốt của các khách hàng.