phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. CHUONG 1: CO SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC. CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH KINH DOANH VÀ CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH.
CHIẾN LƯỢC XUAT KHAU THUY SAN CUA CONG TY THO QUANG. CHƯƠNG 4: HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LUGC XUAT KHAU THUY SAN CHO CONG TY THO QUANG GIAI DOAN 2010 - 2015. CHUONG 1: CO SO LY THUYET VE HOACH ĐỊNH CHIEN LUQC 1. Một số khái niệm cơ bản về chiến lược.
Chiến lược kinh doanh. Theo Chandler (1962) - một trong những người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược - chiến lược là *việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ' bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bỗ các nguằn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”. Cho đến những năm 1980, khi mà môn học quản trị chiến lược đã trở nên chín muỗi, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cấu kết một cách chặt chế”. Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đỗi, dé dap ứng như.
cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hiữu quan”. “Trong định nghĩa chiến lược với 5 chữ P, Mintzberg khái quát các khía cạnh của quản trị chiến lược như sau: ~ Kế hoạch (Plan): chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán. ~ Mô thức (Partern): sự kiên định về hành vi theo thời gian. ~ Vị thế (Position): Phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó.
~ Quan niệm (Perspective): Cách thức để nhận thức sâu sắc về thể giới ~ Thủ thuật (Ploy): cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ. Chiến lược kinh doanh là khái niệm khá trừu tượng và đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau. Mặc dù vậy, có thể khái quát chiến lược kinh doanh là một chương. trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu cơ bản cho tương lai của doanh nghiệp trên cơ sở sử dụng tông hợp các nguồn lực.
Một chiến lược bao gồm 3 nội dung cơ bản: (1) mục tiêu cần đạt được; (2) các phương án huy động và sử dụng nguồn lực thực hiện mục tiêu; (3) hệ thống các chính sách và giải pháp điều hành. Không chỉ bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, định nghĩa chiến lược còn khác nhau tùy theo cấp độ. Việc định nghĩa chính xác chỉ: lược theo cấp độ về bản chất tùy thuộc quan điểm. Tối thiểu có ba mức chiến lược cần được nhận diện: chỉ lược cắp công ty, chiến lược cắp đơn vị kinh doanh, và các chiến lược chức năng.
Chiến lược cấp công ty hướng tới mục đích và phạm vi tông thê của tô chức. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thê. Chiến lược chức năng (hay chiến lược hoạt động) là các chiến lược giúp cho các chiến lược cấp kinh doanh và cắp công ty thực hiện một cách hữu hiệu nhờ các bộ phận cấu thành trên phương diện các nguồn lực, các quá trình, con người và các kỹ năng cần thiết. Phân loại chiến lược.
Phân theo cấp quản trị thì chiến lược được chia làm 3 cấp: chiến lược cấp bội phận chức năng; chiến lược cấp đơn vị kinh doanh; và chiến lược cấp công ty. Chiến lược chức năng: lợi thê cạnh tranh bắt nguồn từ năng lực của công ty nhằm đạt được sự vượt trội hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và trách nhiệm với khách hàng. Với các chiến lược cấp chức năng, chúng ta có ý xem xét vai trò và cách thức mà các chiến lược này hướng đến hoàn thiện hiệu suất của các hoạt động. trong phạm vi công ty, như marketing, quản trị vật liệu, phát triển sản xuất và dich vụ khách hàng.
Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh: tông thê các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp trong một ngành, giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thê. Vấn đề cơ bản mà mỗi doanh nghiệp cần giải quyết khi lựa chọn chiến lược kinh doanh là sẽ cung cấp cho khách hàng sản phẩm hay dịch vụ nào; cách thức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ ấy; và làm cách nào đưa các sản phẩm và dịch vụ đến cho khách hàng. Chiến lược cấp công ty: xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm. giành lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường sản phẩm.
Một chiến lược cấp công ty phải trả lời câu hỏi: các lợi thế kinh doanh nào có thể làm cực đại khả năng sinh lời dài hạn của công ty? Trong nhiều tổ chức, việc cạnh tranh thành công thường có nghĩa là hội nhập dọc — đó là quá trình tích hợp các hoạt động hoặc. là ngược về phía đầu vào của quá trình sản xuất chính hoặc là xuôi theo chiều phân phối sử dụng các đầu ra của hoạt động chính. Quản trị chiến lược. Quản trị chiến lược (Strategic Management) là tiến trình phân tích môi trường, phát triển các định hướng chung của tô chức, lựa chọn các chiến lược phù hợp, tổ chức thực hiện và kiểm tra các quyết định nhằm giúp tổ chức luôn thích nghĩ với môi trường (Phương, 2002).
Mặc dù quản trị chiến lược gồm các giai đoạn cơ bản như vậy, nhưng trong thực tế mỗi giai đoạn trong tiền trình không độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và bắt cứ sự thay đồi ở một bước cụ thể nào đều ảnh hưởng đến các giai đoạn khác (Phương, 2002). Theo hai giáo sư Johnson va Scholes (1998), quản trị chiến lược là quá trình thực hiện "các quyết định chiến lược”. Thực tế, quá trình quản trị chiến lược hoàn chinh bao gồm 3 phần được mô tả trong biểu đồ sau: Co” LỰA THỰC CHỌN HIỆN CHIẾN CHIẾN LƯỢC LƯỢC Hình 1.1: Quá trình quản trị chiến lược (Nguén: Gerry Johnson and Kevan Scholes, 1998) 1⁄2. Hoạch định chiến lược.
Hoạch định chiến lược là một quá trình trong đó người ta phát triển một chiến lược dé đạt được một mục đích cụ thể. Đầu tiên và trên hết, hoạch định chiến lược là một quá trình, có nghĩa là gồm hàng loạt bước đi mà công ty phải theo, cùng nhau nhất trí sẽ đạt đến điều gì (tầm nhìn) và cách mà công ty sẽ đạt đến đó (chiến lược). Đó là hai mục đích của hoạch định chiến lược. Những mục đích có giá trị khác gồm tăng giá trị cô đông của công ty, thị phần và lợi nhuận lâu dài.
Tuy nhiên cũng còn một mục đích khác là phát triển năng lực cốt lõi và lợi thế cạnh tranh bền vững. Như vậy, xác định mục đích là một nội dung của hoạch định chiến lược. Làm cách nào và có đạt được những mục đích đó hay không là trách nhiệm của chiến lược. Cho nên, chọn được một chiến lược đúng là điều quan trọng nhất.
Hoạch định chiến lược cấp đơn vị kinh doanh. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tổng thể các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thể. Vấn đề cơ bản mà mỗi doanh nghiệp cần giải quyết khi lựa chọn chiến lược kinh doanh, đó là: họ sẽ cung cấp cho khách hàng sản phẩm hay dịch vụ nào; cách thức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ ấy; và làm cách nào đưa các sản phẩm và dịch vụ đến cho khách hàng. Để xây dựng chiến lược cấp đơn vị kinh doanh phải bao gồm 3 yếu tố, đó là: (1) nhu cầu khách hàng hay điều gì được thỏa mãn (What); (2) các nhóm khách hàng hay ai được thỏa mãn (Who); và (3) các khả năng khác biệt hóa hay cách thức mà nhu cầu khách hàng được thỏa mãn (How).
~ Nhu cầu khách hàng là những mong muốn, sự cần thiết hay khao khát mà có thể sẽ được thỏa mãn bằng các đặc tính của sản phẩm hay dịch vụ ~ Quyết định rất căn bản ở mọi công ty liên quan đến chiến lược cấp đơn vị kinh doanh, đó là quyết định về thị trường mục tiêu để hướng sự phục vụ của mình vào đó. ~ Vấn đề thứ ba trong chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là theo đuổi các khả năng tạo sự khác biệt để thỏa mãn nhu cầu các khách hàng và các nhóm khách hàng, đó là vượt trội về hiệu quả, chất lượng, cải tiến và đáp ứng khách hàng. Các chiến lược cạnh tranh phải dựa trên các nguồn lợi thế cạnh tranh để thành công. Dù công ty chọn con đường nào để tạo lợi thế cạnh tranh, điều cốt yếu là phải để khách hàng cảm nhận được giá trị vượt trội so với những gì mà đối thủ cung cấp.
Chiến lược cạnh tranh được thiết kế nhằm khai thác chuỗi giá trị và các sức mạnh khác tạo ra lợi thế cạnh tranh. Để tạo khả năng cạnh tranh trong việc lựa chọn sản phâm và cách thức tạo ra sản phẩm có nhiều hướng khác nhau nhưng tựu trung lại trong ba chiến lược cơ bản. Đó là (1) cl in lược dẫn đạo chỉ phí; (2) chiến lược tạo sự khác biệt; (3) các chiến lược tập trung. Chiến lược dẫn đạo chỉ phí Chiến lược dẫn đạo chi phí là tổng thể các hành động nhằm cung cắp các sản phẩm hay dịch vụ có đặc tính được khách hàng chấp nhận với chi phí thấp nhất trong mối quan hệ với tắt cả các đối thủ cạnh tranh.
Mục đích của người đang theo đuôi chiến lược dẫn đạo chỉ phí là làm tốt hơn các đối thủ cạnh tranh, sao cho chỉ phí để sản xuất và cung cấp mọi sản phẩm hay dịch vụ mà nó có thể làm đều thấp hơn đối thủ. Người dẫn đạo chỉ phí có thể có các lựa chọn chiến lược khác nhau. Người dẫn đạo chỉ phí thường chọn mức độ tạo sự khác biệt sản phẩm thấp. Người dẫn đạo chỉ phí cũng thường ít để ý đến các phân đoạn thị trường khác nhau và định vị sản phẩm của mình để thu hút các khách hàng bình thường.
Các chiến lược tạo sự khác biệt.