Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG THÔNG LỆ TỐT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ CÁC THÔNG LỆ TỐT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY THEO OECD 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG THÔNG LỆ TỐT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY 1. Một số khái niệm và định nghĩa Khái niệm "quản trị công ty" Khái niệm "quản trị công ty" trong luận văn này được tác giả lấy từ chữ "corpoprate governance". Đã có rất nhiều định nghĩa về QTCT, theo đó, QTCT được hiểu như tổng hợp các thiết chế và phương pháp để định hướng cho công ty trong một khuôn khổ hoạt động nhằm hướng tới việc tạo ra tài sản thặng dư và hài hòa hóa lợi ích nội bộ cũng như đảm bảo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Theo OECD, QTCT là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa các cổ đông, Hội đồng quản trị (HĐQT), các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó. QTCT không phải là một khái niệm tĩnh, ngay cả trong OECD, khái niệm này cũng có sự biến chuyển theo thời gian.
Nhìn chung, theo OECD, QTCT là: Hệ thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp. Cấu trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp như Hội đồng quản trị, Giám đốc, cổ đông, và những 5 chủ thể khác có liên quan. Quản trị công ty cũng giải thích rõ qui tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành doanh nghiệp. Bằng cách này, Quản trị công ty cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc [39].
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), QTCT là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống QTCT là: (i) Tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý; (ii) Bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các cổ đông; (iii) Các thành viên trong HĐQT có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), QTCT bao gồm một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức danh quản lý, các chủ nợ, chính phủ và những người có liên quan khác cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy chế trên.
Với sự hội nhập môi trường pháp lý quốc tế, pháp luật Việt Nam về QTCT cũng đang dần tiệm cận đến các khái niệm pháp lý gần với "chuẩn" quốc tế. Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện hành coi QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty. Các nguyên tắc quản trị công ty cơ bản bao gồm: - Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả; - Đảm bảo quyền lợi của cổ đông; 6 - Đối xử công bằng giữa các cổ đông; - Đảm bảo vai trò của các bên có quyền lợi liên quan đến công ty; - Minh bạch trong hoạt động của công ty; - HĐQT và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả. Quản trị công ty có nhiều định nghĩa do cách tiếp cận khác nhau.
Dưới góc độ kinh tế, QTCT được hiểu là lĩnh vực kinh tế học nghiên cứu cách thức khuyến khích quá trình quản trị kinh doanh hiệu quả trong các doanh nghiệp bằng việc sử dụng các cơ cấu động viên lợi ích, cấu trúc tổ chức và quy chế - quy tắc. QTCT thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính, chẳng hạn, những cách thức nào mà người chủ sở hữu doanh nghiệp khuyến khích các giám đốc của họ sử dụng để đem lại hiệu suất đầu tư cao hơn; là cách thức mà các nhà cung cấp nguồn vốn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư đảm bảo thu được lợi tức từ các khoản đầu tư của họ. Dưới góc độ trách nhiệm và các mối quan hệ của công ty, QTCT có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là "quan hệ của một doanh nghiệp với các cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ của doanh nghiệp với xã hội." (Financial Times, 1997); QTCT "nhắm tới mục tiêu thúc đẩy sự công bằng doanh nghiệp, tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm" (J. Wolfensohn, Cựu Chủ tịch World Bank, 6/1999).
QTCT bao gồm nhiều thành tố và với nhiều định nghĩa khác nhau, nhìn một cách chung nhất có thể coi là là tập hợp các đối tượng, mục tiêu và thể chế để đảm bảo điều tốt đẹp cho cổ đông, nhân viên, khách hàng, chủ nợ và thúc đẩy danh tiếng, vị thế không chỉ của doanh nghiệp mà còn của tổng thể nền kinh tế. Quản trị công ty là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát doanh nghiệp. Quản trị công ty cũng bao hàm mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ doanh nghiệp như các cổ đông, ban giám đốc điều hành, hội đồng quản trị mà còn những bên có 7 lợi ích liên quan bên ngoài doanh nghiệp: cơ quan quản lý nhà nước, các đối tác kinh doanh và cả môi trường, cộng đồng, xã hội. QTCT cần được phân biệt với quản lý tác nghiệp như: điều hành sản xuất, quản lý marketing, quản lý nhân sự, v.
QTCT là một khái niệm lớn hơn, bao trùm hơn so với các nghiệp vụ quản lý tác nghiệp cụ thể. QTCT không bao gồm các công việc quản lý sự vụ hàng ngày của doanh nghiệp, trừ việc phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của đội ngũ quản lý. QTCT cao hơn nữa có thể coi là một nghệ thuật dung hòa các mối quan hệ đan xen bởi vô vàn nhóm lợi ích khác nhau trong một hệ thống; câu hỏi đặt ra cho nhà quản trị là làm thế nào để định hướng được hệ thống đó để các nhóm lợi ích nội bộ đạt được sự cân bằng mà không ảnh hưởng xấu đến các thiết chế tác động từ bên ngoài. Quản trị công ty là tập hợp các cơ chế nhằm điều khiển và kiểm soát một công ty.
Hệ thống quản trị phân định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của các thành viên công ty, bao gồm các cổ đông, Hội đồng quản trị, các cán bộ quản lý và các bên có quyền lợi liên quan khác; thiết lập các quy trình, nguyên tắc cho việc ra các quyết định quản lý trong công ty. Mục tiêu chính của quản trị công ty là bảo vệ đầy đủ các lợi ích tốt nhất và sự đối xử công bằng đối với tất cả các cổ đông của công ty, vì mục tiêu của công ty là tối đa hóa giá trị cổ đông cho tất cả các cổ đông, kể cả cổ đông trong nước và cổ đông nước ngoài [51]. Trong CTCP có sự đan xen nhiều lợi ích, nếu coi quyền lực - lợi ích của các cổ đông và các bên liên quan trong CTCP như một chiếc bánh, vấn đề đặt ra cho QTCT là làm sao tăng hiệu quả phân bổ của "chiếc bánh quyền lực" này. Đó là mối quan hệ giữa: cổ đông, người cung cấp nguyên vật liệu, khách hàng, người cung cấp tín dụng, người lao động, các bên có lợi ích liên quan khác.
8 Khái niệm QTCT cũng cần phải được phân biệt với các khái niệm có nội hàm tương tự như "giám sát điều hành doanh nghiệp". Khái niệm giám sát điều hành doanh nghiệp: có nhiều định nghĩa về giám sát điều hành doanh nghiệp. Giám sát điều hành doanh nghiệp đề cập đến những cách thức mà nhà cung cấp tài chính cho doanh nghiệp đảm bảo rằng họ lấy được tiền lãi từ khoản đầu tư của họ vào doanh nghiệp. Nói cách khác, làm thế nào để các nhà cung cấp tài chính có thể buộc các nhà quản lý doanh nghiệp chia trả một phần lợi nhuận lại cho họ? Làm thế nào họ có thể chắc chắn rằng các nhà quản lý không đánh cắp tiền vốn đầu tư của họ hoặc không dùng tiền đó đầu tư vào những dự án không hiệu quả? Làm thế nào để họ có thể kiểm soát hoạt động của các nhà quản lý? [45].
Khái niệm "thông lệ tốt về quản trị công ty" Theo cách hiểu đó, khái niệm "thông lệ tốt về quản trị công ty" cũng được tác giả vay mượn từ chữ "best practices in corporate governance" của OECD; có thể dịch là "các thông lệ tốt nhất" sẽ chính xác hơn; trong luận văn, tác giả sử dụng cụm từ "thông lệ tốt về quản trị công ty", "thông lệ tốt" hay "các nguyên tắc về quản trị công ty" đều mang một khái niệm chung và đều là đề cập đến thuật ngữ này. Dịch từ "best practice", tác giả hiểu là các thông lệ tốt, các thói quen hay là "lệ" được coi là chuẩn mực trong quản trị công ty cổ phần. Ở một số quốc gia phát triển có "Code of Best Practices" - Bộ quy chuẩn về các thông lệ tốt, "Code of Ethics" - Bộ Quy chuẩn đạo đức kinh doanh (tạm dịch), có vai trò như là sự chuẩn hóa các nguyên tắc QTCT để hướng dẫn và khuyến nghị cho các công ty đại chúng. Việt Nam hiện nay chưa quen với các quy phạm mang tính hướng dẫn và tùy nghi này.
Thông lệ tốt về QTCT là những lệ được áp dụng phổ biến quy định về cơ chế, quy định thông qua đó công ty được điều hành và kiểm soát.