CHƯƠNG 1. NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ CÔNG TY QUA TỔNG HỢP CÁC LÝ THUYẾT TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu tại nước ngoài Sau sự sụp đổ gây chấn động liên quan tới những gian lận trong tài chính, sổ sách kế toán của nhiều tập đoàn lớn hàng đầu thế giới tại Mỹ và nhiều quốc gia khác vào đầu những năm 2000 như Enron, Worl Com, Tyco, Peregrine Systems., đã xuất hiện một loạt các quy định và đạo luật hướng tới việc cải thiện môi trường QTCT nói riêng và các nghiên cứu về QTCT nói chung.
Cho đến nay, các hướng nghiên cứu chính trên thế giới tập trung chủ yếu vào bổ sung và hoàn thiện các luật hướng tới cải thiện môi trường QTCT và đánh giá, lượng hoá mối quan hệ giữa QTCT và hiệu quả hoạt động cũng như giá trị công ty. Hướng nghiên cứu về lí luận và đánh giá QTCT nói chung Hướng nghiên cứu về lí luận QTCT nói chung được biểu hiện dưới dạng các sách giáo khoa, sách chuyên khảo về QTCT, điển hình như: H.Kent Baker và Ronald Anderson (2011), Corporate Governance: A synthesis of theory, research and practice. Cuốn sách chuyên khảo này là tổng hợp các lý thuyết, nghiên cứu và thực hành về QTCT được chia thành 3 phần: Phần 1 – Nền tảng kiến thức và các quan điểm về QTCT; Phần 2 – Quản trị nội bộ; Phần 3 – Quản trị bên ngoài với tất cả 30 chương. Cuốn sách là tài liệu tham khảo rất hữu ích về QTCT.
Monks and Nell Minow (2004), Corporate Governance. Cuốn giáo trình điển hình về QTCT này nghiên cứu những lý thuyết cơ bản nhất về QTCT, từ các khái niệm đến vai trò của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, cho tới các cơ chế và thông lệ QTCT… Kenneth Kim, John R. Mohr (2010) Corporate Governance là một cuốn sách chuyên khảo hoàn hảo cho học phần Quản trị công ty trong các khóa học về Tài chính doanh nghiệp, Kế toán và một loạt các khóa học về Quản lý như Chiến lược, Đạo đức kinh doanh, và Luật Kinh doanh. Cuốn sách tổng hợp cả lý thuyết và tình huống về QTCT với các nội dung cơ bản như: Giới thiệu về các loại hình công ty và 12 Quản trị công ty; Các khuyến khích trong quản trị điều hành; Kế toán và Kiểm toán viên; Hội đồng Quản trị; Các ngân hàng đầu tư và các nhà phân tích chứng khoán; Các chủ nợ và cơ quan xếp hạng tín dụng; Cổ đông và chủ nghĩa hoạt động của cổ đông; Sự tiếp quản của công ty: Một cơ chế quản trị; Ủy ban Chứng khoán và Đạo luật Sarbanes- Oxley; Rủi ro đạo đức kinh doanh, Rủi ro hệ thống và giải cứu ….
Tuy nhiên, tất cả các cuốn sách nước ngoài đều có bối cảnh nghiên cứu là ở Mỹ, không phải môi trường Việt Nam mà tác giả muốn hướng đến để nghiên cứu xây dựng bài giảng vào giảng dạy và biên soạn giáo trình Quản trị công ty cho sinh viên Đại học Thương Mại. Hướng nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện môi trường QTCT Điển hình của hướng nghiên cứu này là nghiên cứu bổ sung Đạo luật Sarbane – Oxley (2002) của Mỹ: yêu cầu tất cả các thành viên của hội đồng kiểm toán công ty niêm yết phải độc lập. Ngay sau đó, SGDCK New York và Thị trường chứng khoán Nasaq cũng yêu cầu tất cả các công ty niêm yết phải có đa số thành viên HĐQT độc lập. Tiếp đến, các nghiên cứu về thị trường chứng khoán châu Âu, châu Á cũng có những qui định chặt chẽ về sự độc lập của các thành viên Ban giám đốc.
Điểm chung của hướng nghiên cứu này là đưa ra và hoàn thiện các luật, thực thi các quy định liên quan tới việc độc lập hóa các thành viên Ban giám đốc, chứ không nghiên cứu về lý thuyết và vận dụng lý thuyết về QTCT trong giảng dạy. Hướng nghiên cứu đánh giá, lượng giá mối quan hệ giữa QTCT với hiệu quả hoạt động và giá trị công ty Sanjai Bhagat và Brian Bolton (2009) nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng QTCT với hiệu quả hoạt động của công ty dựa trên các chỉ số ROE, ROA, TobinQ tại Mỹ từ 1998-2007 theo hai giai đoạn trước và sau năm 2002 khi đạo luật Sarbane-Oxley có hiệu lực, đã kết luận rằng: trong giai đoạn từ 2003-2007, HĐQT càng độc lập thì càng có tác động tốt lên hiệu quả hoạt động của công ty. Thêm vào đó, nghiên cứu cũng kết luận tỷ lệ cổ phiếu thuộc sở hữu của HĐQT có mối tương quan dương với hiệu quả hoạt 13 động của công ty trong cả hai giai đoạn trước và sau 2002. Nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chất lượng QTCT và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua một chỉ số đo lường chất lượng quản trị cũng được thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau bao gồm cả quốc gia phát triển, đang phát triển như: Mỹ, Úc, Nga, Canada, Đức, Hong Kong, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Thụy Sĩ …và thậm chí tại các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế như Ucraina.
Các nghiên cứu này phần lớn đã cho ra kết luận về mối quan hệ cùng chiều giữa chất lượng QTCT và hiệu quả hoạt động. Nói cách khác điểm chỉ số chất lượng quản trị (CGI) càng cao, doanh nghiệp đó có hiệu quả hoạt động càng cao, điều này tùy theo từng nghiên cứu, có thể lấy đại diện hiệu quả hoạt động là ROE, ROA, Tobins Q hay Tỷ suất sinh lời cổ phiếu hoặc cả bốn biến số này. Dorbert, Schillhofer và Zimmerman (2004) với nghiên cứu “The Determinants of the German Corporate Governance Rating” đã tạo ra bộ xếp hạng QTCT đa nhân tố (CGR) dựa trên phiếu điều tra khảo sát phản hồi từ 91 doanh nghiệp Đức. Nghiên cứu đã kết luận rằng những doanh nghiệp có chất lượng quản trị tốt hơn là những công ty lớn và những công ty này cũng là đối tượng có tỷ suất sinh lời trung bình cao hơn các công ty có xếp hạng QTCT thấp hơn.
Mohanty (2004) đã sử dụng 19 thước đo chất lượng QTCT để phát triển một bộ chỉ số sử dụng cho nghiên cứu mẫu 113 doanh nghiệp tại Ấn Độ. Dựa trên bộ chỉ số này, Mohanty đã kết luận rằng các công ty có điểm chỉ số quản trị cao hơn, tạo ra tỷ suất sinh lời cao hơn và tỷ suất sinh lời cổ phiếu vượt trội. Klapper và Love (2004) nghiên cứu về mối quan hệ này tại 374 công ty tại 14 quốc gia mới nổi cũng cho ra kết luận tương tự. Hodgson, Lhaopadchan, và Buakes (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa QTCT (thông qua chỉ số QTCT) với hiệu quả hoạt động của các công ty của Thái Lan từ năm 2001 tới năm 2006, cũng đưa ra kết luận tương tự như các nghiên cứu trước đó về mối quan hệ tương giữa chỉ số QTCT với hiệu quả hoạt động của công ty đó khi đo lường hiệu quả hoạt động thông qua ROA, ROE, CFO, FCF và tỷ lệ doanh thu trên lao động… Nhìn chung, hướng nghiên cứu này diễn ra trong bối cảnh môi trường kinh doanh là các môi trường khác nhau trên thế giới, không phải Việt Nam.
14 Bên cạnh tập trung vào mối quan hệ giữa QTCT và hiệu quả hoạt động, nhiều nghiên cứu đã đi sâu phân tích và lượng hoá từng nội dung cụ thể của QTCT đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Cụ thể là: Marco Becht và Patrick Bolton (2008) của trường Đại học Brussels (Bỉ) đã có nghiên cứu về “QTCT và kiểm soát QTCT”. Kết quả nghiên cứu cho thấy QTCT có liên quan với độ phân giải của các vấn đề hành động tập thể các nhà đầu tư phân tán và hòa giải các xung đột lợi ích giữa chủ thể khác nhau của công ty. Brown và Marcus L.
Caylor (2004) thuộc trường Đại học Kennesaw State University đã nghiên cứu “QTCT và hiệu quả hoạt động công ty” cho thấy quản trị tốt, được đo bằng cách sử dụng giám đốc điều hành và chính sách bồi thường hợp lý, sẽ mang lại hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tốt nhất. Son a Marrakchi và Jean Bé ar (2001) đã nghiên cứu mối tương quan giữa QTCT và chất lượng công bố thông tin. Nghiên cứu này đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa hoạt động của Ban kiểm soát, Ban giám đốc và mức độ gian lận trong báo cáo kết quả kinh doanh. Sử dụng mẫu nghiên cứu là nhóm các công ty hoạt động tại Mỹ, kết quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan khá chặt chẽ giữa hoạt động của ban kiểm soát với chất lượng báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đặc biệt nghiên cứu cho thấy sự độc lập của ban kiểm soát và chất lượng hoạt động của ban kiểm soát (đo lường thông qua số nhân viên có trình độ về tài chính) ảnh hưởng trực tiếp đến tính trung thực của các báo cáo tài chính. Đối với mối tương quan với hoạt động của Ban giám đốc, kết quả nghiên cứu cho thấy với BGĐ có kinh nghiệm và là thành viên của HĐQT, việc công bố thông tin tài chính được thực hiện tốt hơn. Những phát hiện này có ý nghĩa đối với nhà quản lý, chẳng hạn như Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (SEC), khi họ cố gắng để giám sát các doanh nghiệp có báo cáo tài chính trong vùng màu xám giữa tính hợp pháp và gian lận hoàn toàn và thu nhập tuyên bố phản ánh mong muốn của quản lý chứ không phải là báo cáo kết quả tài chính của công ty như chỉ ra bởi nghiên cứu của Blue Ribbon (1999)… Như vậy, có thể thấy có khá nhiều nghiên cứu xung quanh vấn đề QTCT được thực hiện ở nhiều các quốc gia khác nhau, với các quy mô doanh nghiệp khác nhau. Kết quả của các nghiên cứu này có thể giúp ích lớn trong việc xây dựng tình huống QTCT để 15 giảng dạy và biên soạn giáo trình QTCT – hướng nghiên cứu của đề tài.
Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về lĩnh vực QTCT.