CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Việt Nam vẫn là một quốc gia ít được nghiên cứu trong các công trình về quản trị công ty đại chúng. Trong giai đoạn từ đầu những năm 2000 trở về trước, sự thiếu vắng các nghiên cứu về Việt Nam là có thể hiểu được, bởi lẽ thời gian đó Việt Nam mới bắt đầu tiến trình hội nhập quốc tế, chưa chịu ảnh hưởng mạnh từ những “sự kiện quản trị công ty” quốc tế, bản thân hệ thống công ty cổ phần trong nước đang hình thành nên chưa tr ở thành mối quan tâm trong của các nhà nghiên cứu. Trong các nghiên cứu và báo cáo các năm sau này của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) như “Policy Brief on Corporate Governance of Banks in Asia” (2006);“Implementing the White Paper on Corporate Governance in Asia” (2006); “Asia: Overview of Corporate Governance Frameworks” (2007); “Enforcement of Corporate Governance in Asia” (2007); and “Guide on Fighting Abusive Related Party Transactions in Asia” (2009) và “Corporate Governance in Asia 2011: Progress and Challenges” (OECD 2011 ), cái tên Việt Nam được nhắc tới thường xuyên hơn với tư cách là một trong những quốc gia tham gia khảo sát. Đây là các khảo sát tình hình tiến bộ của các quốc gia dựa trên 6 nhóm yếu tố QTCT được OECD khuyến nghị (đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả; quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản; đối xử bình đẳng đối với cổ đông; vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty; công bố thông tin và tính minh bạch; trách nhiệm của HĐQT).
Tuy nhiên, đó không phải là những nghiên cứu được thiết kế riêng cho Việt Nam. Vì sao lại có hiện tượng này? Hầu hết các nghiên cứu quốc tế đều dựa trên các nghiên cứu trước đó, được công bố trong những tạp chí, hội thảo hay những 10 z cuốn sách và báo cáo có ảnh hưởng và được công nhận rộng rãi. Nhưng những những bài báo khoa học như vậy về Việt Nam hiện hay còn quá ít. Tuy nhiên, vẫn có những nghiên cứu của các tác giả Việt Nam được công bố trên một số tạp chí quốc tế ít có ảnh hưởng hơn.
Các nghiên cứu này đa phần về khía cạnh pháp lý của QTCT tại Việt Nam, một bài về mức độ công bố thông tin và một bài mối kiểm định mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và QTCT sử dụng dữ liệu của các công ty Việt Nam. Nhìn lại những phân tích trên, có thể nói rằng chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về QTCT tại Việt Nam được công bố trên các tạp chí khoa học bằng tiếng Anh.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam, các nghiên cứu về khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở cấp độ doanh nghiệp cũng đang trong giai đoạn phát triển. Nghiên cứu nổi bật nhất phải kể đến Báo cáo thẻ điểm QTCT của Công ty tài chính Quốc tế (IFC) được thực hiện hàng năm kể từ năm 2010; cho đến này đã có báo cáo 2010, 2011 và 2012. Dựa vào hệ thống 6 nguyên tắc QTCT mà OECD khuyến cáo, IFC đã tiến hành đánh giá tình hình thực thi các nguyên tắc này ở 100 công ty niêm yết lớn nhất trên hai sở giao dịch HSX và HNX.
Kết quả ba năm đều cho thấy mức điểm QTCT của các công ty đại chúng lớn nhất Việt Nam chưa vượt qua mức 50% (Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) 2011, 2012). Nghiên cứu của tác giả Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 1 (2013) 1-10 về Vấn đề đại diện của các công ty đại chúng ở Việt Nam đã cho thấy sự suy giảm trong kết quả áp dụng những nguyên tắc quản trị công ty hiệu quả, sự hạn chế hoạt động giám sát thực thi của các cơ quan quản lý, Ủy ban chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán đối với các công ty đại chúng. Qua đó, kết luận bản thân 11 z các công ty đại chúng chưa làm tròn các trách nhiệm của mình trong việc xây dựng môi trường đầu tư có chất lượng ở Việt Nam. Trong năm 2011, một số thành viên nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá chất lượng QTCT của các CTĐC niêm yết tại Sở giao dịch Hà Nội.
Kết quả đánh giá được đưa ra sau một khảo sát gồm hai bước cho thấy chất lượng QTCT của doanh nghiệp HNX đang ở mức trung bình (25,73/51), đáp ứng ở mức tối thiểu yêu cầu của các quy định QTCT hiện hành, tuy nhiên đã xuất hiện một số sự thực thi tiến bộ nhỏ ở vài doanh nghiệp. Dựa vào phân tích đó, các tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp chính để cải thiện chất lượng QTCT đó là sử dụng cải cách khung khổ làm đòn bẩy và tăng cường đào tạo kiến thức QTCT cho các nhóm liên quan. Kết quả nghiên cứu này vừa có sự thống nhất, vừa có những điểm khác biệt so với kết quả của IFC do hai hệ thống chỉ tiêu khác nhau. Điểm thống nhất là cả hai nghiên cứu đều chỉ ra chất lượng QTCT ở mức trung bình của các công ty niêm yết tại Việt Nam; còn điểm khác biệt là mỗi nghiên cứu có những phân tích bên lề riêng biệt.
Tuy nhiên cả hai nghiên cứu này đều mới chỉ dừng lại ở đánh giá và giải thích thực trạng khung pháp lý quản trị công ty đại chúng thông qua những diễn biến kinh tế vĩ mô đương thời. Một phân tích đầy đủ hơn về khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam bên cạnh chất lượng hiện tại còn đang bị bỏ ngỏ, và đó chính là mục tiêu nghiên cứu hướng tới khi thực hiện đề tài nghiên cứu này.2 Cơ sở lý luận khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng 1.1 Khái quát về công ty đại chúng 1.1Nguồn gốc hình thành công ty đại chúng Dưới ống kính lịch sử, các nhà nghiên cứu trên Thế giới đã cho rằng cách đây 3.000 năm trước Công nguyên, từ người Assyria, Phoenecia rồi người Hy Lạp, đến những societas, corpora của người La Mã chính là mầm mống hình thành nên 12 z những ý tưởng như: Một nhóm có thể người hợp lại với nhau tạo nên một thực thể tách rời khỏi họ để hội họp làm ăn, sau này gọi là pháp nhân để phân biệt cá nhân.Từ cá nhân và chịu hoàn toàn trách nhiệm đến hùm hạp với giới hạn trách nhiệm… tương ứng với những ý tưởng độc đáo hình thành các loại hình doanh nghiệp ngày nay. Và công ty cổ phần (CTCP) không phải là ngoại lệ. Dưới góc độ kinh tế, quan sát từ vị trí của người bỏ vốn đầu tư, khi khởi nghiệp vẫn dựa vào mô hình doanh nghiệp gia đình, do một vài cá nhân hoặc gia đình làm chủ, tự bỏ vốn, tự điều hành công việc kinh doanh.
Qua thời gian công ty cổ phần được coi là sản phẩm của một chuỗi quá trình đầu tư, nó đi từ nhu cầu, tâm lí nhà đầu tư muốn mở rộng việc kinh doanh, hùm hạp làm ăn đến việc gọi vốn từ các chủ thể khác mà không cần mối quan hệ thân hữu gắn bó như trước kia. Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt. Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực kinh tế của mình. CTCP là hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, như nhận định của Các Mác “Qua các công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt” Dưới sự quản lý cơ quan hành chính.
CTCP ra đời sau các loại hình công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn. Khác với sự ra đời của hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý. Kể từ sau Luật doanh nghiệp 1999, bên cạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước cùng việc thay đổi cơ chế cấp phép sang cơ chế đăng ký kinh doanh và hậu kiểm đã tạo ra làn sóng thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư tư nhân. Năm 2003, với định hướng xây dựng pháp luật doanh nghiệp thống nhất cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế, cùng mục tiêu nỗ lực tham gia Tổ chức thương mại 13 z thế giới (WTO) thực hiện các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập Luật Doanh nghiệp 2005 được thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa 9 (11/2005) đưa ra những quy định đầy đủ chi tiết về loại hình CTCP (53 điều) và tiếp tục được ghi nhận theo hướng tiếp cận dần đến các chuẩn mực quốc tế về quản trị công ty cũng như tạo sân chơi bình đẳng cho tất cả nhà đầu tư tư nhân.
Cùng trong thời gian này, sự ra đời thị trường chứng khoán tại Việt Nam đã góp phần gia tăng lợi thế so sánh giữa công ty cổ phần so các loại hình doanh nghiệp khác với đặc điểm đại chúng hóa công ty cổ phần thu hút vốn đầu tư bên ngoài. Luật chứng khoán 2006 ban hành và lần đầu tiên văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận loại hình công ty cổ phần với tên gọi “công ty đại chúng”.2Khái niệm về công ty đại chúng a. Tại các nước phương Tây Thuật ngữ “công ty đại chúng” có nguồn gốc sâu xa từ triết lý pháp luật phương Tây, họ lấy cá nhân (người) làm chủ thể pháp luật trong các giao dịch để quy nạp mọi tổ chức kinh doanh dưới tiêu chí “pháp nhân”. Tùy theo pháp luật từng quốc gia mà các tổ chức kinh doanh định hình ba loại chính: công ty, hợp danh và cá nhân kinh doanh.
Sau đó, các học giả phương Tây tiếp tục chia công ty thành hai hình thức công ty nội bộ và công ty đại chúng: Theo Điều 112 đạo luật công ty của Úc, hướng dẫn các nhà đầu tư có thể lựa chọn hình thức công ty nội bộ gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (bởi) cổ phiếu và công ty trách nhiệm vô hạn (hoặc công ty công cộng).