Chương 1. Trong chương này, nhóm nghiên cứu trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung: lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, phạm vi, dữ liệu, phương pháp, các đóng góp - điểm mới và kết cấu của đề tài. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu. Trong chương này, đề tài làm rõ các khái niệm, các lý thuyết nền.
Ngoài ra, trong chương này cũng thực hiện lược khảo các nghiên cứu trước để phân tích về mối quan hệ giữa QTCT và HQHĐ của các doanh nghiệp F&B 5 Chương 3. Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, đề tài sẽ mô tả cụ thể về quy trình, phương pháp, mô hình và dữ liệu nghiên cứu. Phân tích kết quả nghiên cứu.
Trong chương này, đề tài sẽ thực hiện mô tả dữ liệu của các biến trong mô hình nghiên cứu. Đồng thời phân tích tác động của QTCT đến HQHĐ của các doanh nghiệp F&B trong giai đoạn từ năm 2010-2020. Kết luận và hàm ý chính sách. Dựa trên kết quả nghiên cứu đã phân tích tại chương 4, chương 5 trình bày kết luận nghiên cứu.
Đồng thời, nhóm tác giả trình bày có một số hàm ý chính sách cũng như hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương 2, đề tài trình bày cơ sở lý thuyết về hoạt động quản trị công ty và hiệu quả hoạt động cũng như một số lý thuyết nền cho nghiên cứu. Ngoài ra, trong chương này, nhóm tác giả cũng thực hiện khảo lược các nghiên cứu trước để đề xuất giả thuyết nghiên cứu. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY 2.
Khái niệm quản trị công ty Mặc dù các nghiên cứu về QTCT đã được thực hiện trong thời gian gần đây khá nhiều, nhưng khái niệm này vẫn còn một số quan điểm. Theo Khan (2023), QTCT là một thuật ngữ rộng mô tả các quy trình, phong tục, chính sách, luật pháp và thể chế hướng dẫn cho các tổ chức và doanh nghiệp theo cách mà họ hành động, điều hành và kiểm soát các hoạt động. QTCT được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu về nâng cao giá trị cổ đông trong dài hạn bằng quá trình chịu trách nhiệm của các nhà quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. QTCT cũng giúp loại bỏ các xung đột về quyền sở hữu và kiểm soát bằng cách xác định riêng biệt lợi ích của cổ đông và các nhà quản lý.
Cũng tương tự với khái niệm này, Naliaka Njoroge (2022) cho rằng, QTCT là hệ thống các quy tắc, thông lệ và quy trình mà doanh nghiệp được định hướng và kiểm soát. Về cơ bản, QTCT đề cập đến việc cân bằng lợi ích của các bên liên quan của doanh nghiệp như cổ đông, giám đốc điều hành, khách hàng, nhà cung cấp, người cho vay, chính phủ và cộng đồng. Theo OECD (2004), QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông và các bên.lợi liên quan.cấu để đề ra các mục.tiêu của công.định các phương thức nhằm đạt.tiêu này cũng như quá trình giám sát.động doanh nghiệp.Nam, theo quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13 tháng 03 năm 2007 về việc ban hành quy chế QTCT áp dụng cho các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán / trung tâm giao dịch chứng khoán đưa ra khái niệm QTCT – đó là hệ thống những quy tắc nhằm đảm bảo 7 cho.công ty được.định hướng điều.hành và được.có hiệu quả vì quyền.lợi của cổ.đông và những.người liên quan.đến công ty. Như vậy, thông qua các định nghĩa trên, trong nghiên cứu này, QTCT được hiểu là cách thức điều hành, giám sát hoạt động của doanh nghiệp thông qua các bên liên quan bao gồm ban giám đốc, HĐQT và cổ đông để đạt được mục tiêu gia tăng giá trị cho doanh nghiệp, góp phần vào việc tăng trưởng đầu tư và phát triển bền vững, đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan.
Đồng thời, cần lưu ý khái niệm QTCT (corporate governance) và khái niệm quản trị kinh doanh (business management) là hoàn toàn khác biệt. Trong đó quản trị kinh doanh là công tác điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do Ban giám đốc thực hiện; còn QTCT là cách thức quản trị của công ty để đạt được mục tiêu của mình. Vai trò và đặc điểm của quản trị công ty Từ khái niệm QTCT, có thể thấy rằng QTCT nhằm thiết lập một cơ cấu tài chính giúp xây dựng các mục tiêu công ty, xác định cách thức thực hiện và giám sát để đạt được các mục tiêu đó. Do vậy, QTCT có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động, cụ thể: Một là, QTCT thúc đẩy và nâng cao kết quả kinh doanh.
Theo IFC (2017), QTCT hiệu quả góp phần cải thiện HQHĐ doanh nghiệp. Theo đó, QCTC sẽ giúp doanh nghiệp có một hệ thống giải.trình tốt hơn, nhằm giảm.thiểu rủi ro.liên quan đến.các vụ gian lận hoặc các giao dịch nhằm đích phục vụ nhu cầu cá nhân của cán bộ quản lý. Đồng thời, với tinh thần trách nhiệm cao kết hợp với việc quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ có thể giúp cho doanh nghiệp sớm phát triển các vấn đề trước khi chúng phát sinh và diễn đến cuộc khủng hoảng. QTCT sẽ giúp cải thiện HQHĐ, quản lý và giám sát của Ban điều hành, việc áp dụng những cách thức QTCT sẽ góp phần cải thiện quá trình ra quyết định.
Một hệ thống QTCT hiệu quả đảm bảo cho việc tuân thủ pháp luật, các tiêu chuẩn, quy chế, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan. Hai là, doanh nghiệp có hoạt động QTCT hiệu quả sẽ gia tăng khả năng tiếp cận thị trường vốn. Cách thức QTCT có thể quyết định việc công ty dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn nhiều hay ít. Thông thường, những công ty được quản trị tốt thường 8 nhận được các cảm tình tốt của cổ đông và nhà đầu tư, tạo dựng được niềm tin lớn hơn của công chúng vào việc công ty có khả năng sinh lời mà không xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của cổ đông, từ đó gia tăng thu hút vốn cho công ty.
Ba là, giảm chi phí vốn và gia tăng giá trị doanh nghiệp. Thông thường những công ty cam kết áp dụng những tiêu chuẩn cao trong QTCT thường huy động được nhiều nguồn vốn với chi phí thấp khi tài trợ cho các hoạt động của mình. Đồng thời, khi công ty có hoạt động QTCT hiệu quả, công ty lựa chọn được nhiều cơ hội đầu tư tốt, điều này làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Bốn là, nâng cao uy tín.
Trong hoạt động kinh doanh, một phần quan trọng để tạo nên thương hiệu của một doanh nghiệp là uy tín. Theo đó, hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp là phần khối tài sản không thể tách rời của doanh nghiệp. Hoạt động QTCT tốt sẽ góp phần cải thiện, làm nên và nâng tầm uy tín của doanh nghiệp. Với lý do này, những tổ chức, doanh nghiệp coi quyền lợi của cổ đông, chủ nợ cũng như các bên liên quan là yếu tố hàng đầu.
Đồng thời họ đảm bảo tính minh bạch về tình hình tài chính sẽ được xem như những tấm gương tốt cho các lợi ích của công chúng đầu tư. Két quả là những công ty này được sự tin tưởng lớn hơn từ công chúng và từ đó nâng cao giá trị thương hiệu (OECD, 2015). Một số lý thuyết nền về quản trị công ty Trong quản trị doanh nghiệp, HĐQT được coi là nhân tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đến hầu hết hoạt động kinh doanh và lợi ích của chủ sở hữu, do vậy vai trò của QTCT đến HQHĐ doanh nghiệp đã nhận được sự quan tâm lớn của giới học thuật trong những năm vừa qua. Theo Vo và Nguyen (2014), Nguyen, Nguyen, Le, và Le (2022) các lý thuyết phản ánh mối quan hệ giữa QTCT và HQHĐ bao gồm lý thuyết người đại diện, lý thuyết quản lý, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực.
Lý thuyết người đại diện (Agency theory) Lý thuyết người đại diện đã được thảo luận bởi nhiều học giả như Jensen và Meckling (1976), Zahra và Pearce (1989), Davis, Schoorman, và Donaldson (1997). Lý thuyết này trình bày sự không nhất quán về lợi ích của chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp. Điều này đã dẫn đến các mâu thuẫn về mục tiêu của người chủ với tư 9 cách là chủ sở hữu và người đại diện với tư cách là người quản lý (Davis & ctg. Trong một doanh nghiệp cụ thể, chủ sở hữu là người đầu tư vốn vào doanh nghiệp tuy nhiên họ lại không trực tiếp điều hành doanh nghiệp mà ủy quyền cho các nhà quản lý.
Mục tiêu của chủ sở hữu là tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông trong dài hạn. Ngược lại, các nhà quản lý điều hành công ty thường vì lợi ích cá nhân của họ. Do vậy, lý thuyết người đại diện đã thảo luận về các biện pháp để người quản lý theo đuổi mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản cổ đông khi điều hành doanh nghiệp thay vì các mục tiêu thỏa mãn lợi ích riêng của cá nhân. Lý thuyết quản lý (Stewardship theory) Trái ngược với lý thuyết người đại diện, Davis & ctg.
(1997) đã xem xét một cách tiếp cận thay thế về mối quan hệ lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành doanh nghiệp, được dựa trên các khái niệm tâm lý và xã hội học. Với quan điểm này, lợi ích của cá nhân và tổ chức được hòa quyện vào nhau và nhiệm vụ của ban điều hành là thực hiện các hoạt động để hướng đến mục tiêu cho các đối tượng này cũng như phát triển công ty. Sự khác biệt cơ bản giữa lý thuyết quản lý và lý thuyết người đại diện là, lý thuyết người đại diện tập trung vào sự hài lòng bên ngoài - tiêu chí có thể được đo lường bằng giá trị thị trường của công ty trong khi lý thuyết quản lý đề cập đến sự hài lòng nội tại có thể là động lực, thành tích hoặc danh tiếng của người quản lý (Vo & Nguyen, 2014). Thêm vào đó, người quản lý theo lý thuyết quản lý nhận ra rằng, bằng cách làm việc với hiệu suất cao trong tổ chức, lợi ích của cá nhân có thể sẽ được đáp ứng.
Do vậy, bản thân người quản lý họ luôn mong muốn doanh nghiệp hoạt động một cách tốt nhất và đây động lực để họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình. Lý thuyết về sự thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory) Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực được phát triển dựa trên lý thuyết tổ chức và xã hội học.