CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH Chương này trình bày về lịch sử phát triển của quản trị công ty và các định nghĩa khác nhau về quản trị công ty, hiệu quả tài chính được kết luận bởi các nhà nghiên cứu khác nhau. Theo Roche (2005) quản trị công ty là một chủ đề đang được quan tâm nhưng cũng không dễ dàng để đưa ra một định nghĩa nhất định mà phải tùy vào từng ngữ cảnh của chúng. Theo Armstrong và Sweeney (2002) thì không có một định nghĩa duy nhất nào được chấp thuận về quản trị công ty. Liên quan đến các định nghĩa khác nhau, các nhà nghiên cứu và học giả cũng đã phân loại các định nghĩa theo nghĩa hẹp và rộng.
Quản trị công ty 1. Tổng quan lịch sử quản trị công ty Từ quản trị bắt nguồn từ tiếng Latinh, "gubernare", có nghĩa là cai trị và từ Hy Lạp - "kubepunois" có nghĩa là chỉ đạo. Vì vậy, ý tưởng về người chỉ đạo/ người lãnh đạo là cái nhìn sâu sắc và hữu ích về thực tế quản trị (Tricker, 1984). Quản trị công ty đã là một vấn đề được đề cập đến kể từ năm 1600 khi Nữ hoàng Elizabeth I trao hiến chương hoàng gia đầu tiên cho Công ty Đông Ấn để buôn bán vào Viễn Đông (Baskin & Miranti, 1997).
Để công việc diễn ra thuận lợi thì các nhà đầu tư đã bổ nhiệm một giám đốc điều hành - người mà có trách nhiệm giải trình cho họ. Cơ cấu quản trị của công ty này không khác với những gì chúng ta có trong thế giới tư bản ngày nay (Warren, 2000). Adam Smith (1776) đã lưu ý trong “Wealth of Nations” của mình rằng, vì các nhà quản lý không sở hữu doanh nghiệp, không nên mong đợi rằng họ sẽ điều hành công ty theo cách mà chủ sở hữu sẽ làm. Tuy nhiên, xung đột lợi ích này không phải là vấn đề lớn vào thời điểm Adam Smith đưa ra quan sát này vì quy mô cổ phần trong một doanh nghiệp vào thời điểm đó và số lượng nhà đầu tư thụ động thấp (Cadbury, 2002).
Veasey, (1993) quan sát thấy rằng thuật ngữ "quản trị công ty" xuất hiện trên các tạp chí luật Mỹ và được sử dụng nổi bật vào những năm 1970 do hậu quả của các cuộc bê bối và gian lận của doanh nghiệp như vụ bê bối Watergate khi phát hiện ra 8 rằng các doanh nghiệp lớn của Mỹ đã tham gia vào các khoản đóng góp chính trị bí mật và các khoản tham nhũng cho hội đồng quản trị của họ. Ở Anh, quản trị công ty cũng đã trở thành một vấn đề lớn trong những năm 1980 và 1990 vì các vấn đề liên quan đến Tập đoàn công ty Robert Maxwell và Ngân hàng Tín dụng và Thương mại (BCCI). Sau này, các khuyến nghị của Báo cáo Ủy ban Cadbury (1992) đã nhấn mạnh về quản trị công ty đã có tác động to lớn đến sự phát triển của quản trị công ty trên toàn thế giới. Kể từ đầu những năm 1990, và với những vụ bê bối tài chính và những vụ phá sản tàn phá các công ty ở Mỹ và châu Âu, như của Enron (2001), Vivendis Universal (2002), Ahold (2003) và Parmalat (Ý) (2003) quản trị công ty đã trở thành một chủ đề nóng đối với giới truyền thông.
Đã có một số báo cáo bàn luận về chủ đề này chẳng hạn như: nguyên tắc quản trị công ty ở Mỹ (1992), Đạo luật Sarbanes - Oxley (2002), Greensbury, Higgs và Hampel ở Anh (1995, 1998 và 2000), Vein (1995) và Bouton (2002) ở Pháp. Các báo cáo này đã được chuyển thành các luật và quy định mới cho thấy những hạn chế của các cơ chế quản trị công ty hiện có, nhưng lại gây ra những tranh cãi học thuật về định nghĩa quản trị cũng như về các mô hình nhằm đảm bảo lợi ích của cổ đông (Trabelsi, 2010). Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008 - 2009) đã khuyến khích các quốc gia cần có động thái hướng tới quản trị công ty tốt hơn, thúc đẩy các chính phủ thực hiện các thay đổi đối với cấu trúc quản trị trên thị trường tài chính (OECD, 2010; Kirkpatrick, 2009). Báo cáo của UNCTAD (2010) và OECD (2010) cũng đã nêu bật những thiếu sót trong quản trị công ty trong các lĩnh vực, ví dụ như thực tiễn quản trị rủi ro, thực tiễn hội đồng quản trị, … Các báo cáo này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia trong việc đưa ra các hướng giải quyết trong quản trị công ty.
Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển như Việt Nam, thì thành phần quản trị công ty lại không phát huy được hết tiềm năng do vẫn còn tồn tại tham nhũng, can thiệp chính trị và thiếu kỷ luật thị trường vốn. Không riêng chỉ Việt Nam mà bất cứ quốc gia nào cũng phải nhận thức được rằng: quản trị công ty là điều bắt buộc và tất yếu để đảm bảo sức khỏe kinh tế của các tổ chức tài chính của mình. Định nghĩa quản trị công ty **Nghiên cứu nước ngoài: Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị công ty cả trong thực tiễn lẫn trong nghiên cứu học thuật (Bebchuk & Hamdani, 2009; Shleifer & Vishny, 1997). Đặc biệt, các sự kiện về sự sụp đổ của nhiều công ty lớn trên thế giới, chẳng hạn như WorldCom, Enrol và Arthur Andersen, được khẳng định có liên quan đến vấn đề quản trị công ty (Erkens và cộng sự, 2012).
Vì vậy, nhiều học giả đã xem xét lại định nghĩa cũng như các khía cạnh khác nhau của quản trị công ty và cho rằng sự khác biệt về văn hóa, hệ thống pháp luật và diễn biến lịch sử từ nước này sang nước làm cho khó xác định một định nghĩa thống nhất chung về quản trị công ty (Ararat và cộng sự, 2016; Black, 2001; Claessens và Yurtoglu, 2013). Như vậy, có thể thấy các định nghĩa và hiểu biết về quản trị công ty là đa chiều dựa trên các định hướng, văn hóa và các điều kiện cụ thể (Ararat và cộng sự, 2016). Vì vậy, nhận thức toàn diện về các cơ chế quản trị công ty được minh họa bởi Ross và cộng sự (2005) và Gillan (2006): Hình 1. Quản trị công ty và mô hình cân đối tài sản của doanh nghiệp theo Ross và cộng sự (2005) 10 Hình 1.
Quản trị công ty và mô hình bảng cân đối mở rộng theo Gillan (2006) Từ quan điểm hẹp, Shleifer và Vishny (1997) định nghĩa quản trị công ty là cách thức mà các nhà cung cấp tài chính cho doanh nghiệp đảm bảo bản thân họ nhận được lợi nhuận tốt từ việc đầu tư. Định nghĩa này hẹp ở chỗ nó nhấn mạnh đến các nhà cung cấp tài chính và không nhận ra mối quan hệ giữa các bên liên quan và các nhà quản lý của doanh nghiệp. Tương tự, Hội đồng Cadbury định nghĩa một hệ thống quản trị là “hệ thống mà công ty được chỉ đạo và kiểm soát” (Cadbury, 1992a). Theo tiêu chuẩn của Úc (2003) định nghĩa quản trị công ty là quá trình mà các tổ chức được chỉ đạo, kiểm soát và nắm giữ.
Sheikh & Chatterjee (1995) định nghĩa quản trị công ty là “một hệ thống trong đó các thành viên HĐQT được giao phó trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến sự chỉ đạo các công việc của doanh nghiệp”. Hội đồng Quản trị doanh nghiệp ASX (Council 2014) định nghĩa quản trị công ty như sau: “Khuôn khổ các quy tắc, các mối quan hệ, các hệ thống và các quy trình bên trong và qua đó quyền lực được thực hiện và kiểm soát trong tập đoàn. Nó bao gồm các cơ chế mà các công ty, và những người đang kiểm soát, được tổ chức để thực hiện. Quản trị công ty có ảnh hưởng đến cách thức mà các mục tiêu của doanh 11 nghiệp được đặt ra và đạt được, làm thế nào rủi ro được theo dõi và đánh giá, và làm thế nào hiệu quả được tối ưu hóa”.
Một số nhà nghiên cứu tranh luận rằng nghĩa vụ chính của một doanh nghiệp là hướng tới việc tối đa hóa sự giàu có cho các cổ đông (Baker và cộng sự, 1988; Fama và Jensen, 1983; Jensen, 1986; Jensen và Meckling, 1976; Ross, 1973; Scharfstein, 1988). Góc nhìn hẹp của định nghĩa này phù hợp với mô hình tài chính thông thường có thể được giải thích thông qua các lý thuyết đại diện. Các cổ đông đóng vai trò của người chủ và người quản lý là người đại diện. Quan điểm này cũng tương tự như một định nghĩa của Walker (2009), trong đó khẳng định rằng vai trò của quản trị công ty là để bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích của cổ đông bằng cách thiết lập các định hướng chiến lược của doanh nghiệp, bổ nhiệm và giám sát quản lý nhằm để đạt được mục tiêu trên.
OECD (2004) định nghĩa: “Quản trị công ty bao gồm một tập hợp các mối quan hệ giữa nhà quản lý của công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên liên quan khác. Cơ cấu quản trị công ty quy định cụ thể việc phân phối các quyền và trách nhiệm giữa các thành viên khác nhau trong công ty, chẳng hạn như hội đồng quản trị, nhà quản lý, các cổ đông và các bên liên quan khác, và giải thích rõ ràng các quy tắc và thủ tục ra quyết định về các công việc của công ty. Bằng cách này, nó cũng cung cấp các cấu trúc thông qua đó các mục tiêu của công ty được thiết lập và các phương tiện đạt được những mục tiêu này và giám sát hiệu quả”. Theo Công ty Bảo hiểm liên bang Hoa Kỳ thì Quản trị công ty nói chung là quá trình quản lý công việc của một tổ chức hoặc đảm bảo trách nhiệm giải trình.
Nó bao gồm một loạt các hoạt động, chẳng hạn như thiết lập các chiến lược và mục tiêu kinh doanh, xác định khẩu vị rủi ro, phát triển các chính sách nội bộ và giám sát hiệu suất (FDIC, 2005). Theo đó, sự công bằng, minh bạch và trách nhiệm giải trình được xem là mục tiêu của quản trị công ty. Quản trị là điều kiện tiên quyết để tồn tại và là thước đo hiệu quả hoạt động của hệ thống kinh doanh ở bất kỳ quốc gia nào. Ở các nước đang phát triển, tầm quan trọng của quản trị là để củng cố nền tảng của xã hội và tham gia vào nền kinh tế toàn cầu (Matama, 2008).
12 Những định nghĩa ủng hộ các trường phái khác cho rằng một doanh nghiệp có nghĩa vụ không chỉ cho các cổ đông của mình, mà còn cho tất cả các bên liên quan, người có đóng góp rất cần thiết cho sự thành công của doanh nghiệp (Chicago Press & Freeman,1984; Donaldson & Preston, 1995).