phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu BHXH bắt buộc. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện e 8 Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. e 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm về bảo hiểm xã hội Hiện nay, BHXH đã trở thành một chính sách lớn đƣợc Hiến pháp thừa nhận và pháp luật cụ thể hóa. Chính sách BHXH đã đƣợc thể chế hoá và thực hiện theo Luật. Tại kỳ họp thứ 9 khóa XI Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006.
Đến ngày 20/11/2014, Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật BHXH số 58/2014/QH13 để thay thế Luật BHXH số 71/2006/QH11. Tại Khoản 1, Điều 3, Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Từ khái niệm trên có thể rút ra bản chất của BHXH nhƣ sau: - Dưới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Hay nói cách khác, BHXH tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro thuộc phạm vi BHXH.
- Dưới góc độ xã hội, BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi thu nhập của họ bị giảm hay mất. Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lƣợng lao động xã hội, lực lƣợng sản xuất, tăng năng suất lao động, ổn định trật tự xã hội. Nhƣ vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là bộ phận cơ bản để đảm bảo an sinh xã hội của quốc gia. Đặc điểm, vai trò của bảo hiểm xã hội 1.
Đặc điểm Trên cơ sở khái niệm BHXH, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của BHXH nhƣ sau: - BHXH mang tính chất xã hội, phi lợi nhuận, không vì mục đích kinh doanh thu lợi nhuận mà vì mục đích phục vụ cộng đồng xã hội trên phạm vi toàn quốc, nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nƣớc, đảm bảo cho NLĐ có khoản trợ cấp thiết yếu khi gặp rủi ro, khó khăn trong cuộc sống. Mục đích của BHXH là đảm bảo đời sống cho những NLĐ tham gia BHXH và gia đình họ, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội. - BHXH là một chính sách xã hội đƣợc luật hóa tùy theo điều kiện cụ thể của từng nƣớc. Điều này xuất phát từ đặc điểm của thị trƣờng lao động, khả năng của Chính phủ trong việc đảm bảo cân đối quỹ và tổ chức thực hiện chính sách.
- NLĐ tham gia BHXH và gia đình họ là những đối tƣợng trực tiếp đƣợc hƣởng lợi từ chính sách BHXH, khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra nhƣ: bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do hết tuổi lao động, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chết…BHXH là một hoạt động thỏa thuận và không thỏa thuận. Điều này thể hiện ở chỗ BHXH có cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. - Việc tổ chức và thực hiện đƣợc chính sách BHXH phải dựa vào một quỹ bảo hiểm do NLĐ, NSDLĐ đóng góp và có sự bảo trợ của Nhà nƣớc. Chính vì những yếu tố này mà BHXH đƣợc coi là một chính sách lớn của mỗi quốc gia và đƣợc Nhà nƣớc quan tâm quản lý chặt chẽ nhằm đem lại lợi ích an sinh xã hội lớn nhất cho ngƣời dân.
Vai trò Vai trò của BHXH đƣợc xem xét trên 3 gốc độ: đối với NLĐ; đối với tổ chức sử dụng lao động; đối với Nhà nƣớc và xã hội. e 11 (1) Đối người lao động - BHXH giúp cho NLĐ ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ. Thật vậy, ai trong chúng ta đều biết, rủi ro là yếu tố phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên và là một tất yếu không thể tránh đƣợc cho tất cả mọi ngƣời. Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe dọa cuộc sống của mỗi ngƣời, gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội.
Khi tham gia BHXH, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH nhƣng khi NLĐ gặp rủi ro, bất hạnh nhờ có chính sách BHXH mà họ đƣợc nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống không chỉ cho riêng NLĐ mà còn cho cả gia đình của họ. - BHXH còn tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng cho NLĐ khi đã tham gia BHXH. Khi gặp rủi ro, ngoài sự hỗ trợ vật chất, BHXH còn là nguồn động viên tinh thần to lớn tạo tâm lý yên tâm cho NLĐ trong quá trình làm việc, tạo cho họ tin tƣởng vào tƣơng lai, từ đó góp phần vào việc tăng năng suất lao động cũng nhƣ sự nỗ lực vì sự phát triển của đơn vị họ công tác nói riêng và toàn xã hội nói chung. - BHXH giúp NLĐ chi tiêu có hiệu quả nguồn thu nhập của mình.
Với đặc thù khoản tiền đóng BHXH thƣờng đƣợc trích theo lƣơng hàng tháng nên sẽ giúp cho NLĐ chủ động trong việc đóng bảo hiểm và cân đối nguồn tài chính chi tiêu, tiết kiệm trong gia đình. (2) Đối với tổ chức sử dụng lao động - BHXH góp phần ổn định các nguồn lực trong quá trình hoạt động của tổ chức sử dụng lao động. Khi NLĐ gặp rủi ro trong lao động và trong đời sống, thay vì đơn vị SDLĐ phải chi một khoản tiền để bù đắp, hỗ trợ cho NLĐ thì việc BHXH chi trả thu nhập cho NLĐ sẽ góp phần làm cho lực lƣợng lao động trong tổ chức đƣợc ổn định, hoạt động của tổ chức tiếp tục đƣợc duy trì. Cũng chính từ điều này mà BHXH đã thể hiện tính trách nhiệm của tổ chức, từ đó tạo thêm niềm tin của NLĐ, ổn định và phát triển mối quan e 12 hệ giữa NLĐ với NSDLĐ, góp phần gia tăng uy tín, thƣơng hiệu cho tổ chức đồng thời là yếu tố giúp tổ chức thu hút, giữ chân NLĐ.
- BHXH góp phần gia tăng các lợi ích tài chính cho tổ chức sử dụng lao động. Khi rủi ro xảy ra, việc chi trả của BHXH một mặt giúp NLĐ yên tâm làm việc, từ đó nâng cao năng suất và chất lƣợng công việc, gia tăng doanh thu và lợi nhuận cho tổ chức; mặt khác giúp giảm các khoản chi đột xuất của tổ chức cho NLĐ nên tình hình tài chính của các doanh nghiệp đƣợc ổn định hơn. (3) Đối với Nhà nước và xã hội - Đối với Nhà nước, trong hoạt động BHXH, Nhà nƣớc tiến hành xây dựng chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của ngƣời tham gia BHXH đồng thời nhằm thực hiện vai trò quản lý về BHXH, bảo hộ cho quỹ BHXH nhằm hạn chế việc tăng chi từ ngân sách nhà nƣớc cho lĩnh vực này. - Đối với xã hội, chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, giúp Nhà nƣớc điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và xã hội trên phƣơng diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ gìn ổn định xã hội trong từng thời kỳ cũng nhƣ trong suốt quá trình.
Ngoài ra, với đặc điểm là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, BHXH còn là phƣơng thức huy động vốn để đầu tƣ phát triển kinh tế - xã hội. Nguyên tắc và đối tƣợng tham gia bảo hiểm xã hội 1. Nguyên tắc BHXH là loại hình bảo hiểm không vì mục tiêu lợi nhuận nên BHXH hoạt động dựa theo nguyên tắc cơ bản sau: - Mọi người lao động đều có quyền tham gia và hưởng trợ cấp BHXH: NLĐ không phân biệt trình độ, độ tuổi hay ngành nghề đều có quyền tham gia và hƣởng trợ cấp BHXH. Nguyên tắc này nhằm góp phần đảm bảo quyền bình đẳng giữa những NLĐ trên phƣơng diện xã hội, nhất là trong điều kiện BHXH có sự bảo trợ của Nhà nƣớc.
Vì vậy mà ngày nay, BHXH đã trở thành e 13 quyền cơ bản của NLĐ, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế. Ở Việt Nam, quyền tham gia và hƣởng BHXH của NLĐ đã đƣợc ghi trong Hiến pháp và Bộ Luật lao động. Tuy nhiên, NLĐ đƣợc tham gia và hƣởng BHXH ở mức độ nào, trong những trƣờng hợp nào,… hay nói cách khác là khả năng đƣợc chia sẻ, khắc phục rủi ro đến đâu còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và thể chế chính trị của mỗi quốc gia. - Mức hưởng trợ cấp BHXH phải tương quan với mức đóng góp: Khoản chi trả của BHXH cần tƣơng xứng với mức đóng của NLĐ và dựa trên điều kiện có sự bảo trợ của Nhà nƣớc đối với quỹ BHXH.
Ngoài ra, trong một số trƣờng hợp, mức bảo hiểm còn phải dựa trên thời gian đóng bảo hiểm. Yếu tố này đặc biệt quan trọng đối với các chế độ bảo hiểm dài hạn. Mức chi trả này cần đảm bảo nguyên tắc không đƣợc cao hơn, thậm chí phải thấp hơn mức lƣơng khi NLĐ đang làm việc nhằm mục đích chia sẻ, khuyến khích NLĐ tích cực lao động sản xuất, không ỷ lại hay lạm dụng chế độ bảo hiểm để nghỉ việc. Nhƣ vậy, mức trợ cấp BHXH cho NLĐ phải đƣợc tính toán hợp lý trong tƣơng quan với rất nhiều yếu tố, trong đó mức đóng, thời gian đóng BHXH và có tính chia sẻ là những yếu tố chủ yếu nhất.
- Nguyên tắc số đông bù số ít: Nguyên tắc này là nguyên tắc nền tảng của bảo hiểm nói chung. Mặc dù phí tham gia bảo hiểm thấp nhƣng dựa trên việc tham gia của số đông ngƣời và chỉ có một số ít ngƣời không may gặp rủi ro, do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, nên việc chi trả của bảo hiểm nói chung cao hơn nhiều so với khoản phí BHXH mà họ đã đóng góp. Theo nguyên tắc này, càng nhiều ngƣời tham gia BHXH thì san sẻ rủi ro càng đƣợc thực hiện dễ dàng hơn.