Lời mở đầu phê phán kinh tế chính trị học, C. Mác viết: “Sản xuất sáng tạo ra những sản phẩm thích hợp với các nhu cầu, phân phối phân chia các vật đó ra theo những quy luật xã hội; trao đổi và phân phối lại cái đã phân phối theo những nhu cầu cá biệt trong tiêu dùng, sản phẩm vƣợt ra khỏi sự vận động xã hội đó, trực tiếp trở thành đối tƣợng và kẻ phục vụ cho một số nhu cầu cá biệt, và thỏa mãn nhu cầu đó trong tiêu dùng. Nhƣ vậy, sản xuất thể hiện ra là điểm xuất phát, tiêu dùng là điểm cuối cùng, phân phối và trao đổi là điểm trung gian, điểm trung gian này lại có hai yếu tố, vì phân phối đƣợc coi là yếu tố xuất phát từ xã hội và trao đổi là yếu tố xuất phát từ cá nhân… Trong phân phối thì xã hội làm nhiệm vụ trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng dƣới hình thái những quy định phổ biến có tác dụng chi phối. Trong trao đổi môi giới giữa sản xuất và tiêu dùng là sự quy định ngẫu nhiên của cá nhân” [4, Tr 278].
Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng cao, hoạt động thƣơng mại sẽ trở nên ngày càng phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp. Điều đó đòi hỏi một cơ chế quản lý, kiểm soát tốt để đảm bảo sự an toàn, bình đẳng và phát triển bền vững cho hoạt động thƣơng mại nói riêng hoạt động kinh doanh nói chung. Hoạt động thương mại là hoạt động mang tính nghề nghiệp do thương nhân thực hiện Hoạt động thƣơng mại đƣợc hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội, các thƣơng nhân kinh doanh là những ngƣời chỉ làm nhiệm vụ phân phối hàng hóa một cách thƣờng xuyên, liên tục để kiếm lời. Đó là một 14 Luan van nghề của các thƣơng nhân.
Điều này đƣợc phân biệt với các hoạt động tranh thủ thông qua chuyến đi công tác, một ngƣời mua hàng hóa từ nơi khan hiếm về nơi cần hàng để kiếm lời. Liên quan đặc điểm này, yếu tố chủ thể của hoạt động thƣơng mại (thƣơng nhân) cũng phải hội tụ những điều kiện nhất định. Ngoài tính chất hoạt động phải thƣờng xuyên, các chủ thể thực hiện hành vi thƣơng mại phải có những điều kiện vật chất, kỹ thuật nhất định (vốn, tài sản, sức lao động, và những tiêu chuẩn kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh cụ thể,…) là những điều kiện cần để thực hiện hoạt động thƣơng mại, đồng thời phải có các quyền tự do, chủ động tiến hành các hành vi thƣơng mại (theo quy định pháp luật) và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động thƣơng mại đó. Mục tiêu của hoạt động thương mại là kinh doanh vì lợi nhuận Đối với mỗi doanh nghiệp thì mục tiêu kinh doanh đầu tiên là lợi nhuận vì lợi nhuận duy trì sự sống của toàn bộ công nhân viên trong công ty cũng nhƣ sự tồn tại của doanh nghiệp và nó cũng là động lực của kinh doanh.
Muốn có lợi nhuận thì doanh thu bán hàng phải lớn hơn chi phí bỏ ra. Muốn có doanh thu bán hàng và dịch vụ lớn thì phải bán đƣợc hàng và giảm tối đa các khoản chi phí kinh doanh không cần thiết. Nền kinh tế ngày nay là nền kinh tế thị trƣờng do vậy không có độc quyền bán cũng nhƣ độc quyền mua, chính vì vậy mà các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để tiêu thụ đƣợc hàng hoá. Trong điều kiện cạnh tranh trên thị trƣờng, việc thu hút khách hàng không phải là công việc có thể thực hiện trong ít ngày mà nó là một công việc lâu dài và bền bỉ.
Doanh nghiệp phải kinh doanh loại hàng hoá phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của ngƣời tiêu dùng để đƣợc khách hàng chấp nhận. Muốn làm đƣợc điều này, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đổi mới mẫu mã cũng nhƣ tăng cƣờng công tác bán hàng. Lợi nhuận và sự kì vọng vào nó phụ thuộc vào loại hàng hoá và chất lƣợng hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh. Ngoài ra, khối lƣợng và giá cả hàng hoá bán đƣợc, cung cầu hàng hoá trên thị trƣờng, chi phí và tốc độ tăng giảm chi phí kinh doanh,… cũng là những nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp.
Hoạt động thương mại phải được nhà nước ghi nhận bằng chứng nhận đăng ký kinh doanh Các chủ thể kinh doanh nói chung phải đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ra quyết định thành lập, cho phép thành lập hoặc công nhận. Hiện nay, khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thì quy chế pháp lý về việc thành lập các chủ thể kinh doanh và các doanh nghiệp nói riêng có nhiều thay đổi theo hƣớng đơn giản hơn so với trƣớc đây. Theo đó, các chủ thể kinh doanh là các loại hình doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp cùng với hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, và hợp tác xã trƣớc đây chỉ cần đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Riêng với các chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, doanh nghiệp nhà nƣớc, việc thành lập vẫn phải tuân theo những trình tự thủ tục đƣợc quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật tƣơng ứng đang có hiệu lực.
Đây là đặc điểm xác lập tƣ cách chủ thể pháp lý độc lập của các chủ thể kinh doanh, làm cơ sở để nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ các chủ thể kinh doanh trƣớc pháp luật. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THƢƠNG MẠI TẠI CẤP TỈNH 1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại là bộ phận hợp thành của quản lý nhà nƣớc về kinh tế, đó là sự tác động hƣớng đích, có tổ chức của hệ thống cơ quan QLNN đến các thƣơng nhân, bằng các công cụ, nguyên tắc và phƣơng pháp quản lý, nhằm hƣớng hoạt động thƣơng mại phù hợp với mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế. Nhiệm vụ của nhà nƣớc trong quản lý thƣơng mại hƣớng vào việc đăng ký kinh doanh, quản lý chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ, quản lý về giá,.
đảm bảo lợi ích cho ngƣời tiêu dùng, nhà nƣớc và cho chính bản thân các thƣơng nhân tham gia cạnh tranh công bằng, bình đẳng. Trên cơ sở xác định các nhiệm vụ cần quản lý, Nhà nƣớc tổ chức ra các cơ quan chức năng, giao công việc cho họ theo cách đảm bảo sự phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ. Để đảm bảo cho các cơ quan có chức năng nhiệm vụ 16 Luan van riêng biệt hoạt động quản lý hƣớng tới mục tiêu chung, các cơ quan này cần phải quản lý theo hệ tiêu chuẩn, công cụ quản lý do nhà nƣớc hoạch định và xây dựng. Mặc dù là hoạt động quản lý kinh tế, nhƣng quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại là hoạt động quản lý vĩ mô, khác với hoạt động quản lý kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp.
Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại là hoạt động quản lý đặc biệt bởi tính quyền lực nhà nƣớc và ở chủ thể quản lý, đối tƣợng quản lý, cũng nhƣ các mục tiêu quản lý nhà nƣớc cần hƣớng tới. Chủ thể quản lý nhà nước về thương mại Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại là quá trình thực hiện các chức năng cơ bản nhƣ: hoạch định chính sách phát triển thƣơng mại, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát hoạt động thƣơng mại của các cơ quan quản lý nhà nƣớc. Chủ thể thực hiện chức năng quản lý thuộc về Nhà nƣớc, mà cụ thể là hệ thống các cơ quan công quyền. Các cơ quan này có đối tƣợng quản lý là hoạt động thƣơng mại, vì vậy vai trò quản lý chủ yếu thuộc về những cơ quan, tổ chức có chuyên môn, nghiệp vụ thƣơng mại.
Hoạt động thƣơng mại mặc dù chỉ diễn ra trong khâu trao đổi, phân phối hàng hóa, dịch vụ, nhƣng hình thức hoạt động đa dạng, hàng hóa, dịch vụ thuộc về nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Do đó, chủ thể quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại cũng gồm nhiều cơ quan liên quan khác nhau, nhƣ kế hoạch và đầu tƣ, ngành thƣơng mại, tài chính, ngân hàng, nông nghiệp và lâm nghiệp,… trong đó chủ trì các hoạt động quản lý thuộc về ngành thƣơng mại. Để tổ chức quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại, tại Trung ƣơng, các Chính phủ thƣờng giao cho một bộ chuyên trách với những tên gọi khác nhau (Bộ Thƣơng mại, hoặc Bộ Công Thƣơng,…) chủ trì. Tại các Tỉnh, một mặt theo sự phân cấp của Bộ chuyên trách, đồng thời theo thẩm quyền, UBND tỉnh phân công cho Sở chuyên ngành chủ trì hoạch định chính sách, tổ chức quản lý và kiểm soát các hoạt động thƣơng mại trong phạm vi địa phƣơng quản lý.
Các chủ thể (cơ quan) QLNN về thƣơng mại đƣợc Nhà nƣớc tổ chức xây dựng và phân công, phân cấp quản lý theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền nhất định. 17 Luan van Hoạt động quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại tại các tỉnh là nhằm thực thi quyền lực nhà nƣớc vì mục tiêu chung. Bên cạnh những nhiệm vụ đƣợc phân cấp quản lý nhằm phát huy tiềm năng và lợi thế của địa phƣơng là những chính sách chung mà mỗi tỉnh không thể phá vỡ, nhằm đạt mục tiêu chung của cả nƣớc. Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại tại mỗi tỉnh không thể tùy tiện, vƣợt qua những quy định pháp luật của Nhà nƣớc, tránh tình trạng mục tiêu của một tỉnh đạt đƣợc trong sự xâm hại đến mục tiêu của các tỉnh khác, chồng chéo, dẫm chân lên nhau, cản trở mục tiêu chung của cả nƣớc.
Đó là lý do, các cơ quan quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại tại các tỉnh phải hoạch định chính sách riêng trên cơ sở chiến lƣợc và kế hoạch của quốc gia. Công cụ quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại là các chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch của đất nƣớc. Đối tượng quản lý nhà nước về thương mại Đối tƣợng quản lý của nhà nƣớc về thƣơng mại là các hoạt động thƣơng mại của các thƣơng nhân trên thị trƣờng. Các hoạt động thƣơng mại thuộc đối tƣợng quản lý của nhà nƣớc bao gồm nhiều loại nhƣ: - Hàng hóa lƣu thông và dịch vụ cung ứng trên thị trƣờng Hoạt động quản lý của nhà nƣớc đối với hàng hóa, dịch vụ bao gồm việc cấp giấy phép kinh doanh cho các doanh nghiệp hoạt động tại thị trƣờng trong nƣớc và doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, kiểm tra thủ tục, quy trình, số lƣợng cấp phép cho những hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đƣợc phép kinh doanh, pháp luật không cấm.