Chương 1. Thiết lập hệ thống và cải tiến chất lượng, Chương 2. Phòng ngừa các sự cố và khắc phục, Chương D3. Đánh giá đo lường, hợp tác và cải tiến chất lượng), Phần E.
Tiêu chí đặc thù chuyên khoa gồm có 2 chương ( Chương E1.Tiêu chí sản khoa, Chương E2. Tiêu chí nhi khoa). Các tiêu chí được chấm điểm theo các mức từ 1 đến 5, mức tối đa là 5 điểm. Hằng name bệnh viện tự đánh giá và sau đó sẽ được Bộ Y tế kiểm tra 12 đánh giá lại.
Đây là căn cứ để trình tổ chức PSI làm căn cứ đánh giá chất lượng Bệnh viện. Quản lý nhà nước về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 1. Quản lý Quản lý là hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, đơn giản đến phức tạp.
Trình độ xã hội hóa càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó tăng lên”. Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là “ hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra, định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đã định của tổ chức và đúng ý chí của nhà quản lý. Với ý nghĩa như vậy, quản lý gồm các yếu tố: - Chủ thế quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định nhằm đạt mục tiêu của nhà quản lý đặt ra. Đối tượng quản lý (khách thể quản lý): Tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội.
Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý đề ra. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các hình thức, phương pháp thích hợp. Điều này là vô cùng hợp lý bởi, quản lý nói chung là đối tượng nghiên cứu của 13 nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Xuất phát điểm của các ngành khoa học khác nhau thì sẽ có một định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.
Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ pháp lý: Thuật ngữ quản lý nhà nước là chức năng quan trọng trong vận hành thường xuyên bộ máy nhà nước bảo đảm hoạt động của xã hội cũng như trên từng lĩnh vực đồi sống xã hội vận động theo một hướng, đường lối nhất định do NN đặt ra. Đây là hoạt động thực thi quyền lực NN nhằm xác lập trật tự ổn định, phát triển theo mục tiêu mà giai cấp cầm quyền đề ra.
Có thể hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là việc hướng dẫn chấp pháp, điều 14 hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện và được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế. Theo Giáo trình lý luận hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của các nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội ” [36, tr3]. Quản lý nhà nước về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những yếu tố quan trọng khẳng định giá trị, thương hiệu của bất kỳ cơ sở khám chữa bệnh nào. Tuy nhiên để đảm bảo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh thì vai trò của Nhà nước vô cùng quan trọng.
Nhà nước phải xây dựng, đưa ra các quy chuẩn, các tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Nhà nước tổ chức triển khai, chỉ đạo, hướng dẫn việc áp dụng các quy chuẩn đó vào hoạt động của các bệnh viện. Nhà nước thực hiện kiểm định chất lượng, xếp hạng giữa các bệnh viện ở các tuyến… Có thể nói, hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng khám, chữa bệnh là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến đảm bảo chất lượng dịch vụ, đến việc tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách pháp luật; các tiêu chí, tiêu chuẩn và tổ chức thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở khám chữa bệnh trong phạm vi toàn quốc. Như vậy, theo các cách tiếp cận trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là sự tác động liên tục, có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước, do các cơ quan 15 nhà nước có thẩm quyền tiến hành bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội, tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác trên cơ sở pháp luật nhằm định hướng phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ của các cơ sở khám chữa bệnh, đáp ứng các nhu cầu và yêu cầu về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.
Vai trò và sự cần thiết của Quản lý nhà nƣớc về chất lƣợng dịch vụ khám chữa bệnh 1. Vai trò Quản lý nhà nước về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh - Nhà nước vừa là chủ thể quản lý vĩ mô các hoạt động liên quan đến chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong đó có khám chữa bệnh, vừa là chủ thể trực tiếp cung cấp dịch vụ KCB cho nhân dân, đặc biệt những vùng sâu, vùng xa, những lĩnh vực dịch vụ KCB đặc biệt cho những nhóm đối tượng đặc biệt ví dụ tạo điều kiện thuận lợi để người nghèo tiếp cận mạng lưới dịch vụ khám chữa bệnh thông qua việc phát triển mạng lưới y tế cơ sở, y tế dự phòng. - Dịch vụ khám chữa bệnh là một loại dịch vụ đặc biệt và đây cũng là một trong những loại dịch vụ công thiết yếu. Do đó nó có các vai trò sau: Một là, định hướng phát triển dịch vụ khám chữa bệnh và đảm bảo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh.
Thông qua các văn bản pháp lý như nghị quyết, thông tư, nhà nước định hướng phát triển chất lượng theo một hướng thống nhất. Các quy định của nhà nước về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh có vai trò, ý nghĩa quan trọng, góp phần trong việc đảm bảo thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn về phục vụ tốt cho việc chăm sóc sức khỏe cho người dân, sự phát triển của đất nước và xã hội của mỗi quốc gia. Bằng việc quy định cụ thể các quy định của luật và văn bản hướng dẫn đảm bảo vai trò không thể thay thế được trong việc thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn về khám chữa bệnh nói chung ở nước ta hiện nay. 16 Hai là, thông qua việc ban hành các chính sách như đầu tư cho y tế, phát triển nguồn nhân lực y tế, ưu đãi, khuyến khích cán bộ y tế, nhà nước tạo điều kiện về tài chính, và pháp lý cần thiết nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh.
Nhà nước kiến tạo môi trường để nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, vì vấn đề thay đổi chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh có tác động đến kinh tế xã hội. Ba là, chức năng của Nhà nước là phải xây dựng được khuôn khổ pháp lý để mọi hoạt động khám chữa bệnh phải tuân thủ, phải thực hiện thanh kiểm tra nhằm đưa hoạt động khám chữa bệnh vào trật tự, kỷ cương đảm bảo quyền và lợi ích của người bệnh, do vậy nhà nước phải kiểm soát để đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh. Bằng các quy định bắt buột đào tạo liên tục hoặc cấp giấy phép hành nghề các cá nhân, các phòng khám, các cơ sở điều trị… cơ quan nhà nước đã và đang tăng cường sự kiểm soát của mình đối với chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Ngoài ra cơ quan nhà nước tăng cường xử phạt đối với các cơ sở kinh doanh không đủ điều kiện, đảm bảo năng lực khám chữa bệnh của các cơ sở kinh doanh.
Bốn là, hoạt động Quản lý nhà nước về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân, ý thức trách nhiệm của cán bộ y tế.